Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO 1. Một số vấn đề chung về tôn giáo 1. Khái niệm tôn giáo Theo tác giả Hà Ngọc Anh trong cuốn Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hiện nay cho rằng: “Tôn giáo là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào những nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, giáo lý những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng tôn giáo khác nhau” [1].
Theo quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học thì “Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên trở thành siêu tự nhiên, thần bí…” Trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cho rằng: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại vào hệ thống quan niệm về hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”. Đối tượng quản lý của tôn giáo Đối tượng quản lý của tôn giáo gồm: - Tín đồ: là người có niềm tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận. Ở người tín đồ tôn giáo được thể hiện sự thống nhất giữa hai mặt vừa là người công dân vừa là tín đồ, trước khi là tín đồ trước hết là công dân. Mọi công dân đều được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau: còn về phía tôn giáo, tín đồ có niềm tin, tình cảm, quyền lợi, nghĩa vụ do tổ chức 10 giáo hội quy định được thể hiện trong giáo lý, giáo luật.
Trong quan hệ với tôn giáo, con người là tín đồ; còn trong quan hệ xã hội con người ấy là công dân, trong đó khía cạnh công dân phải đặt lên trên hết. - Chức sắc: là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức. Các chức sắc tôn giáo, có sự thống nhất giữa ba mặt: công dân, hành đạo và bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi và nghĩa vụ công dân như mọi công dân. Ngoài ra, các chức sắc tôn giáo còn có điểm đặc biệt hơn công dân bình thường ở chỗ: có có quyền uy của giáo hội, do từng tôn giáo quy định, đại diện cho tổ chức Giáo hội ở những mức độ khác nhau trong quan hệ đối nội cũng như trong quan hệ giữa đời và đạo.
- Chức việc: là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức. - Nhà tu hành: là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo. - Người đại diện: là người thay mặt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, sinh hoạt tôn giáo tập trung, hoạt động tôn giáo của nhóm người hoặc tổ chức mà mình đại diện. - Tổ chức tôn giáo: là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định, được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo.
- Tổ chức tôn giáo trực thuộc: là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo. - Cơ sở tôn giáo: gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo. 11 Nơi thờ tự của các tôn giáo được xây dựng bằng những vật liệu khác nhau và có kiến trúc khác nhau phù hợp với niềm tin của từng tôn giáo, là nơi hiện hữu của thần quyền, nơi bái vọng, ngưỡng mộ và biểu hiện tình cảm đức tin tôn giáo, nơi diễn ra những nghi lễ tôn giáo. Nơi thờ tự còn là nơi diễn ra các hoạt động hành chính của đạo, là nơi diễn ra các lễ hội tôn giáo, nơi sinh hoạt của các tổ chức tôn giáo.
Ngoài ra, các tôn giáo còn có các cơ sở vật chất khác như: khuôn viên, ruộng đất, cơ sở đào tạo, cơ sở từ thiện, nhà dòng, nhà chùa… Những cơ sở này vừa là tài sản do các tổ chức tôn giáo sử dụng vừa là nơi diễn ra các hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Những cơ sở này được giáo hội giao trách nhiệm cho chức sắc có quyền quản lý, sử dụng. - Địa điểm hợp pháp: là đất, nhà ở, công trình mà tổ chức hoặc cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật. - Sinh hoạt tôn giáo: là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo.
Sinh hoạt tôn giáo là một phạm trù rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong các hoạt động tôn giáo. Nhìn chung, mọi sinh hoạt tôn giáo đề do các thể nhân tôn giáo thực hiện đơn lẻ tại gia hoặc do chức sắc và các pháp nhân tôn giáo thực hiện như Ban hành giáo, Ban hộ tự… Các sinh hoạt tôn giáo tuân theo luật lệ và lễ nghi nhất định như lễ thường, lễ trọng, các phép bí tích, các khóa hạ, giới đàn, bồi linh… Luật lệ và lễ nghi của các tôn giáo chứa đựng trong các văn tự và chỉ thể hiện ra thành hành vi có thể đo đếm được thông qua các sinh hoạt tôn giáo. - Hoạt động tôn giáo: là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. Đặc điểm tôn giáo ở nước ta - Việt Nam là quốc gia đa dân tộc (có 54 dân tộc) và có nhiều tôn giáo.
Tính đến tháng 12/2021, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo khác nhau như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao 12 Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha'i, Giáo hội Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội), Giáo hội Cơ đốc Phục Lâm Việt Nam (Cơ đốc Phục Lâm), Phật hội Tứ Ân hiếu nghĩa (Phật giáo Tứ Ân hiếu nghĩa), Giáo hội Phật đường Nam Tông Minh Sư đạo (Minh Sư đạo), Hội thánh Minh lý đạo – Tam Tông Miếu (Minh lý đạo - Tam Tông Miếu), Hội đồng chức sắc Chăm Bà-la-môn tỉnh Ninh Thuận (Bà-la-môn giáo).Ngoài ra, còn có 04 tổ chức (Hội thánh Phúc âm Toàn Vẹn Việt Nam; Hội thánh Tin lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam; Giáo hội các Thánh Hữu Ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô Việt Nam (Mặc Môn); Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn (Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn)) và 01 pháp môn (Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh vô vi (Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên - Cao Đài)) được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; có khoảng 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số cả nước), 54.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự. - Tôn giáo ở Việt Nam thì đa dạng, đan xen, chung sống hòa bình và gần như không có xung đột, đấu tranh tôn giáo (điểm nổi bật): Việt Nam là nơi giao lưu của nhiều luồng văn hóa thế giới. Các tôn giáo ở Việt Nam có sự đa dạng về nguồn gốc và truyền thống lịch sử. Mỗi tôn giáo ở Việt Nam có quá trình lịch sử tồn tại và phát triển khác nhau, nên sự gắn bó với dân tộc cũng khác nhau.
Tín đồ của các tôn giáo khác nhau cùng chung sống hòa bình trên một địa bàn, giữa họ có sự tôn trọng niềm tin của nhau và chưa từng xảy ra xung đột, chiến tranh tôn giáo. Thực tế cho thấy, không có một tôn giáo nào du nhập vào Việt Nam mà không mang dấu ấn, không chịu ảnh hưởng của bản sắc văn hóa Việt Nam. - Các tôn giáo vào Việt Nam nói chung luôn đồng hành cùng dân tộc, và có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước: đồng hành, gắn bó cùng dân tộc cả trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, cả trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ tổ quốc và cả trong giai đoạn 13 xây dựng đất nước hiện nay. Bởi vì các tín đồ theo tôn giáo, các chức sắc tôn giáo trước hết họ là công dân của một đất nước, họ là 1 tín đồ vậy thì khi đất nước mà bị ngoại xâm, xâm lăng rõ ràng họ phải cùng với dân tộc để gìn giữ lấy độc lập dân tộc.
Bản thân bọn thực dân Đế quốc xâm lược ở Việt Nam nó không trừ chỗ nào, nó không trừ nơi có làng đạo, có chùa chiền, có nhà thờ. Nên bản thân các tôn giáo cũng là nạn nhân của bọn thực dân đế quốc. Còn trong giai đoạn hiện nay, với số lượng khoảng 26,5 triệu tín đồ chiếm hơn 1/4 dân số cả nước, số lượng tín đồ đang cùng với toàn thể dân tộc tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực, cả trên góc độ chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng xã hội và đặc biệt là vai trò của các tôn giáo tham gia ngày càng sâu vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, dạy nghề, thiện nguyện, nhân đạo. Đối với tôn giáo lớn có nhiều chứa đựng các giá trị nhân văn nhân đạo hướng thiện có một chức năng rất quan trọng là giáo dục ý thức cho một bộ phận quần chúng nhân dân.
- Các tôn giáo ở Việt Nam đều có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài. Nhìn chung các tôn giáo ở nước ta, không chỉ các tôn giáo ngoại nhập, mà cả các tôn giáo nội sinh đều có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài hoặc các tổ chức tôn giáo quốc tế. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới; có quan hệ kinh tế với 221 thị trường nước ngoài và là thành viên của nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế như: Cộng đồng Pháp ngữ; Liên Hợp Quốc; Phong trào Không liên kết; ASEAN; Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM); Diễn đàn Hợp tác Kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình Dương (APEC); Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)…Đây chính là điều kiện gián tiếp củng cố và phát sinh mối quan hệ giữa các tôn giáo Việt Nam với tôn giáo ở các nước trên thế giới.