Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO 1.1 Những khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm TG TG, theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền của cái tột cùng, như sự gắn bó với Chúa, với Thượng đế hoặc được hiểu là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người và thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái linh thiêng với cái trần tục. Trong tiếng anh, TG là religion, có nghĩa là sự tồn tại của một quyền lực bên ngoài mà con người phải tuân theo; cảm giác mộ đạo và tuân theo quyền lực đó. Theo tiếng Hy Lạp thì TG là regere - ràng buộc hay mối liên hệ giữa con người và thần linh. Theo từ điển tiếng việt: “TG là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh” [50, tr.239], Tại điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo có ghi rõ: TG là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về TG, nhưng chúng ta có thể hiểu TG theo định nghĩa như sau: TG là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng TG, được vận hành bằng những nghi lễ, giáo lý những hành vi TG khác nhau của từng cộng đồng xã hội TG khác nhau.2 Khái niệm chính sách TG CSTG là chính sách đặc thù của Nhà nước ta. Từ trước tới nay đã có nhiều quan niệm hay cách tiếp cận khác nhau về CSTG, trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi xin điểm qua một số quan niệm cũng như cách hiểu về CSTG như sau: Theo tác giả Nguyễn Đức Lữ, CSTG là "phương tiện, công cụ" của quản lý 10 nhà nước đối với hoạt động TG, trong đó quản lý nhà nước với hoạt động TG được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh hướng các quy trình TG và hành vi hoạt động TG của tổ chức, cá nhân TG diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể quản lý. Theo nghĩa hẹp, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND các cấp) để điều chỉnh các quá trình TG và mọi hành vi hoạt động TG của tổ chức, cá nhân TG diễn ra theo quy định của pháp luật [28, tr.
Tác giả Hà Ngọc Anh cho rằng: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ, bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Chính sách đối với hoạt động TG là hệ thống những quan điểm, chủ trương về nguyên tắc cho những hoạt động của các TG như: Các TG của Việt Nam được hoạt động tự do trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam; mọi công dân của Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước Việt Nam xử lý bằng pháp luật đối với bất cứ công dân Việt Nam nào vi phạm pháp luật, không phân biệt tôn giáo [1, tr. Tác giả Nguyễn Văn Thanh thì nêu quan điểm về CSTG theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Cụ thể là, theo nghĩa rộng: CSTG ở Việt Nam là tổng thể các quy định, quy tắc xử sự chung, các biện pháp trên các lĩnh vực do Đảng, Nhà nước ban hành nhằm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, TG, đoàn kết toàn dân tộc, làm cho đồng bào có đạo được đảm bảo an sinh, sống tốt đời đẹp đạo, các hoạt động TG được quản lý, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước, hội nhập quốc tế.
Còn theo nghĩa hẹp thì: CSTG của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể những quy phạm pháp luật, các chương trình hành động, các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… của Nhà nước, nhằm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, TG, đoàn kết toàn dân tộc, làm cho đồng bào có tín ngưỡng, TG được đảm bảo an sinh, sống tốt đời đẹp đạo, các hoạt động tín ngưỡng, TG được quản lý, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước, hội nhập quốc tế. 11 Tác giả Trương Ngọc Tuấn cho rằng: CSTG là CSC về lĩnh vực xã hội, được biểu hiện bằng hệ thống các hành vi mà nhà nước ứng xử (làm hoặc không làm) với TG, nhằm bảo vệ quyền và những lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi người trong hoạt động tín ngưỡng, [39, tr. Trong phạm vi của luận văn này, CSTG được hiểu là những quy phạm pháp luật, các chương trình hành động, các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… của Nhà nước nhằm tác động điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình TG và hành vi hoạt động TG của tổ chức, cá nhân TG diễn ra phù hợp theo quy định của pháp luật, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước.3 Khái niệm thực hiện chính sách TG Thực hiện chính sách là một khâu quan trọng, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. Thực hiện chính sách nói chung, CSTG nói riêng là khâu, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách, có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống.
CSTG ở Việt Nam chủ yếu thực hiện nguyên tắc, đường lối, quan điểm của Đảng ta và nguyên tắc Hiến định: Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, TG; có quyền theo hay không theo tín ngưỡng, TG. Vì vậy, việc thực hiện CSTG của Việt Nam phải đảm bảo và bảo hộ quyền tự do TG, tín ngưỡng của mọi người; phải bình đẳng trước pháp luật giữa người theo TG và không theo TG; Đồng bào các TG là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào có TG với đồng bào không theo TG xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Trong quá trình thực hiện CSTG cần phải chú ý đến những đặc điểm của CSTG riêng của Việt Nam như: CSTG của Việt Nam chịu sự tác động, chi phối bởi các điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Việt Nam; Đối tượng thụ hưởng CSTG là đồng bào có đạo, là những nhóm xã hội đặc thù, liên kết với nhau trên cơ sở niềm tin TG; Việc thực hiện CSTG của Việt Nam cũng phải vừa có tính phổ quát, hội nhập, tương thích với các quy tắc, thông lệ chung của thế giới, vừa phải có những quy định, quy tắc riêng mang tính dân tộc. Có chính sách ban hành áp dụng chung đối với tất cả các TG, có chính sách áp dụng đối với một TG cụ thể, có loại 12 chính sách không áp dụng đối với các tổ chức và cơ sở TG; Việc thực hiện chính sách phải chịu sự tác động, chi phối bởi đặc trưng của hệ thống chính trị nước ta, trong đó công tác TG được xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ngoài việc các cơ quan lãnh đạo của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư) ban hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết, kết luận, thông báo. về TG và CSTG để các cơ quan Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, nhiều văn bản của Đảng, cơ quan lãnh đạo của Đảng hoặc những tổ chức đảng được cấp có thẩm quyền ủy quyền có thể chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp giải quyết trực tiếp vấn đề TG ở Trung ương, địa phương; có chính sách, văn bản chính sách mang tính nội bộ, không phổ biến rộng hoặc ở chế độ Mật với các cấp độ khác nhau; Quá trình thực hiện CSTG của Việt Nam phải có sự kế thừa những truyền thống lịch sử tốt đẹp của cha ông, phát huy vai trò, tư tưởng và các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các TG, tín ngưỡng trong xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam nhân nghĩa, khoan dung.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với TG 1.1 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về TG Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc thực hiện các chính sách TG được Đảng khẳng định trên rất nhiều văn bản, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề về TG và công tác TG; văn kiện các Đại hội Đảng, từ khóa VI đến nay. Trong các Nghị quyết chuyên đề, trước hết phải kể đến Nghị quyết số 24- NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác TG trong tình hình mới. Tại Nghị quyết này, nhiều quan điểm về TG và chỉ đạo công tác TG của Đảng lần đầu tiên được đưa ra với nhiều nội dung đổi mới và mang tính “đột phá”.
Đó là các quan điểm: TG là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và là vấn đề còn tồn tại lâu dài; đạo đức TG có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, nội dung cốt lõi của công tác TG là công tác vận động quần chúng và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực phản động và lợi dụng TG chống phá cách mạng. 13 Như vậy có thể thấy, quan điểm của Đảng về TG và công tác TG đã chuyển từ nhận thức TG là chính trị, là nhạy cảm, tiêu cực, là địch lợi dụng TG sang TG là nhu cầu của nhân dân, là lực lượng quần chúng của Đảng và TG có những giá trị tích cực. Nhận thức của Đảng về TG như vậy là khách quan và toàn diện hơn so với trước đây.