Chương 1 LÝ LUẬN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠNXÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI 1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người Theo Từ điển tiếng Việt thì “Công tố là truy tố, buộc tội bị cáo và phát biểu ý kiến trước Tòa án, nhân danh Nhà nước” [36]. Từ điển Luật học định nghĩa: “Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội” [46].
Như vậy có thể hiểu, quyền công tố là cái quyền thay mặt Nhà nước để buộc tội và luận tội bị cáo ra trước Tòa án về hành vi phạm tội của bị cáo. Trong khoa học pháp lý, công tố là một quyền: Quyền công tố hình thành với tư cách là trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội nhằm xử lý tội phạm bảo đảm trật tự xã hội, quyền này được thực hiện xuyên suốt từ việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Từ khi có quyền công tố thì Nhà nước là chủ thể duy nhất được thực hiện, quyền công tố không còn là nhiệm vụ của tư nhân trong việc khởi tố và điều tra, trong việc truy tố và xét xử nữa. Xuyên suốt quá trình đó là hoạt động chứng minh tội phạm của cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công tố.
Quyền công tố là một trong những quyền thuộc quyền lực của Nhà nước và quyền này gắn với bản chất mỗi kiểu nhà nước sẽ có những đặc điểm khác nhau. Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự và thông thường quyền này thường được giao cho một cơ quan nhà nước chuyên trách. Khi có tội phạm xảy ra, Cơ quan này trong quá trình thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự với người phạm tội phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Khi có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, cơ quan Công tố sẽ quyết định việc truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ quan điểm buộc tội trước phiên toà.
Do vậy, phạm vi của quyền công tố bắt đầu 7 từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Đối tượng của quyền công tố là hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với họ. Tóm lại, xuất phát từ các căn cứ lý luận được phân tích ở trên, theo tác giả: Quyền công tố là quyền lưc công được Nhà nước trao cho cơ quan nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về tội phạm mà người đó đã thực hiện và bảo vệ việc truy tố trước Tòa án. Cụm từ “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng của Viện KSND tại Điều 138, và được nhắc lại ở các Điều 1 và 3 Luật tổ chức Viện KSND năm 1981.
Kể từ đó, đã có nhiều tài liệu, bài viết bàn về quyền công tố và thực hành quyền công tố. Qua đó, đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của quyền công tố và thực hành quyền công tố, mỗi quan điểm có cách thể hiện và lập luận khác nhau. Có quan điểm coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, có quan điểm coi quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm hoặc có quan niệm coi quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Trong ba quan điểm được nêu ra ở trên, quan điểm thứ ba có lẽ phù hợp nhất, bởi vì quan điểm này xác định đúng đắn nhất về bản chất quyền công tố - một loại quyền lực công thuộc về Nhà nước, bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật và Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện quyền này.
Các quan điểm còn lại hoặc quá rộng khi đánh đồng cả quyền công tố và chức năng kiểm sát, hoặc quá hẹp khi cho rằng thực hành quyền công tố kết thúc khi hoàn thành thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa sơ thẩm. Từ quan điểm thứ ba có thể suy luận, thực hành quyền công tố sẽ là việc Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết để truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi phạm tội xuyên suốt quá trình giải quyếtvụ án. 8 Luật tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định từ Mục 2 đến Mục 4, từ Điều 14 đến Điều 21 về việc thực hiện chức năng THQCT và KSXX của Viện KSND thông qua các công tác cụ thể trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; khởi tố, điều tra vụ án hình sự; truy tố tội phạm; xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm và trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự. Mỗi giai đoạn, nội dung quyền công tố mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát là khác nhau.
Xét xử phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng luật định nhằm kiểm tra lại tính có căn cứ hoặc tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị (Điều 330BLTTHS 2015). Thông qua thủ tục phúc thẩm, cấp phúc thẩm có nhiệm vụ sửa chữa những sai sót trong việc áp dụng pháp luật của cấp sơ thẩm. Tại Điều 330 BLTTHS 2015 cũng khẳng định xét xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, thể hiện rõ nguyên tắc hai cấp xét xử của BLTTHS, khác hẳn với thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Theo từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện” [32].
Để thực hiện quyền công tố thì Viện kiểm sát phải sử dụng các quyền năng thuộc nội dung quyền công tố trong suốt quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án. Từ đó, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Nội dung quyền công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội [20, tr. Những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người là xâm phạm vào quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe.
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến khách thể là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, vốn quý của con người, được luật hình sự bảo vệ. Đối tượng tác động của các tội phạm này là người đang sống, đang tồn tại với tư cách là thực thể tự nhiên và chủ thể xã hội [20, tr. Như vậy, các tội xâm 9 phạm tính mạng, sức khỏe của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người khác được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận, bảo vệ. Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sức khỏe của con người là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc buộc tội của nhà nước, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác, được thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật [20, tr.
Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm mà có bản án hình sự bị kháng cáo kháng nghị. Cụ thể: nếu bản án do TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, sẽ do TAND cấp tỉnh xét xử phúc thẩm; nếu bản án do TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị sẽ do TAND cấp cao xét xử phúc thẩm. Theo đó, Viện KSND cấp tỉnh và Viện KSND cấp cao cũng là hai cơ quan có nhiệm vụ THQCT tương ứng trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của Kiểm sát viên cùng cấp là điều bắt buộc, trong trường hợp vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, cho dù sự vắng mặt đó có hoặc không có lý do chính đáng.
Kiểm sát viên có mặt tại phiên tòa phúc thẩm để thực hiện các nhiệm vụ thuộc chức năng THQCT và KSXX, trong đó Kiểm sát viên sẽ THQCT thông qua các hành vi tố tụng như xét hỏi, xem xét vật chứng, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng. nhằm bảo đảm các sự thật khách quan của vụ án 10 được sáng tỏ, tạo ra tiền đề hợp lý để giúp phán quyết của Tòa án được ban hành một cách công minh nhất.