CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI VÀ VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội phạm giết người 1. Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm giết người Con người với tư cách là thực thể của tự nhiên và xã hội, luôn là đối tượng được quan tâm và bảo vệ hàng đầu trong mọi nhà nước, đặc biệt là ở các nhà nước hiện đại thì vấn đề con người càng được quan tâm, xã hội càng phát triển thì việc bảo vệ con người và các lợi ích của con người càng được chú trọng [8]. Tính mạng của con người là giá trị cao nhất của con người.
Quyền được sống, được tôn trọng vào bảo vệ là quyền cơ bản, hàng đầu của con người, của công dân.Hiến pháp nước ta quy định mọi người có quyền sống. Tính mạng của con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật (Điều 19 Hiến pháp năm 2013). Tội giết người (Điều 93 BLHS năm 1999, Điều 123 BLHS năm 2015) được hiểu là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác bằng mọi hình thức.
Tội phạm này xâm trực tiếp đến quyền được sống của con người. Đối tượng tác động của tội phạm là con người đang sống đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là thực thể tự nhiên và xã hội. Mặt khách quan của tội phạm giết người được thể hiện ở hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác bằng mọi hình thức, bằng các công cụ, phương tiện khác nhau. Hậu quả của tội giết người là gây ra cái chết (dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm), nếu hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được thực hiện nhưng vì những nguyên nhân khách quan khác nhau mà hậu quả chết người không xảy ra thì hành vi đó được coi là giết người chưa đạt.
Chủ thể của tội phạm giết người là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do pháp luật quy định.Tội phạm được thực hiện với lỗi 7 cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp với động cơ và mục đích khác nhau nhưng đây không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm [31, tr. Như vậy, có thể khái niệm tội phạm giết người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 93 BLHS năm 1999 (Điều 123 BLHS năm 2015) do người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận, bảo vệ. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, có thể khái quát tội giết người có bốn đặc trưng cơ bản sau đây: Về măt khách quan của tội phạm được biểu hiện bao gồm cả hành động hoặc không hành động; hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác phải là hành vi trái pháp luật; hành vi trái pháp luật và hậu quả chết người phải có mối quan hệ nhân quả với nhau; hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác phải là hành vi được thực hiện do lỗi cố ý (bao gồm cả cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp). Đặc điểm hình sự của tội phạm giết người: - Đối tượng gây án: Đối tượng tác động của hành vi giết người chỉ có thể là con người đang sống.
Vì khách thể của tội giết người là xâm phạm tới quyền được sống của con người nên đối tượng tác động chỉ có thể là những người đang sống. Thời điểm bắt đầu cuộc sống của con người được tính từ khi con người được sinh ra cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Như vậy việc giết người chưa được sinh ra hoặc sau khi đã chấm dứt sự sống thực sự không bị coi là phạm tội giết người. Hành vi tước đoạt tính mạng phải nhằm vào đối tượng là người khác chứ không phải bản thân người phạm tội.
Do vậy, tự tước đoạt tính mạng của mình không thuộc hành vi khách quan của tội giết người. Mỗi con người đều có quyền và nghĩa vụ đối với cuộc sống của chính bản thân mình. Tính mạng là cái quý giá nhất đòi hỏi sự bảo vệ từ chính bản thân con người. Con người có quyền năng lớn nhất đối với tính mạng của mình.
Có trường hợp tước đoạt tính mạng người khác do được sự đồng ý của nạn nhân. Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi này vẫn bị coi là trái pháp luật. - Về nạn nhân: trong vụ án giết người phần lớn là nam giới. Nguyên nhân chủ yếu Là do mâu thuẫn bộc phát va chạm nhỏ nhặt nạn nhân không kiểm chế 8 được uống rượu, bia say bị kính thích mạnh dẫn đến thiếu bình tĩnh không làm chủ được bản thân dẫn đến có lời nói xúc phạm người phạm tội.
- Động cơ mục đích: Động cơ phạm tội được hiểu là nhân tố bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm. Bất kỳ một hành vi có ý thức nào của con người cũng đều do những nhân tố khách quan hoặc chủ quan thúc đẩy hoặc tác động. Khi thực hiện tội phạm, bao giờ người phạm tội cũng hướng tới một mục đích nào đó. Giết người để làm gì, vì điều gì? Tuy vậy, động cơ phạm tội lại không phải là dấu hiệu định tội của tội giết người.
Dù giết người với động cơ như thế nào đi chăng nữa thì việc xác định tội danh vẫn không thay đổi. Trên thực tế việc giết người được thực hiện với nhiều động cơ và mục đích khác nhau Động cơ hành động, nhân cách của người phạm tội và mục đích hành động luôn có mối liên quan với nhau, vì mỗi quyết định hành động của con người đều được quy định bởi nhiều yếu tố, trong đó có nhân cách của người phạm tội và động cơ hành động. Do vậy, việc nghiên cứu nhân cách người phạm tội (trước hết là thái độ đối với tính mạng, sức khoẻ người khác) cũng như động cơ hành động của họ có thể giúp xác định được mục đích hành động (hành động nhằm đạt cái gì?) và qua đó xác định được thái độ chủ quan của người phạm tội đối với hậu quả chết người đã thấy trước. Ở đây cần chú ý: + Từ một động cơ có thể có nhiều mục đích khác nhau được đặt ra và một mục đích có thể xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau.
+ Xử sự của một người có thể phù hợp với nhân cách nhưng cũng có thể trái với nhân cách của họ. Động cơ sẽ có ý nghĩa quyết định cho việc chứng minh người phạm tội mong muốn hậu quả chết người, nếu câu trả lời tại sao người phạm tội đã thực hiện tội phạm cũng là câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi người phạm tội muốn gì qua hành vi phạm tội của mình. Giữa nhân cách, mục đích chính của người phạm tội và thái độ có ý thức chấp nhận hậu quả chết người xảy ra luôn có mối liên hệ với nhau. Trong trường hợp có ý thức chấp nhận hậu quả chết người xảy ra, người phạm tội đã đánh giá việc đạt được mục đích chính của mình quan trọng hơn, cần thiết hơn việc tránh hậu quả chết người, nên đã chấp nhận hậu quả chết người để đạt được mục đích.
Sự 9 đánh giá và lựa chọn này là kết quả tác động qua lại của những yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có nhân cách người phạm tội và mục đích chính của người đó. Từ mối liên hệ như vậy có thể sử dụng tình tiết nhân cách và mục đích chính của người phạm tội cùng với những tình tiết khác để xác định thái độ chủ quan của họ đối với hậu quả chết người đã thấy trước. + Một số động cơ của tội giết người được quy định là tình tiết định khung tăng nặng như: Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác Để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân Vì vậy, trong vụ án giết người, việc xác định động cơ phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội. - Thời gian địa điểm: Về thời gian của tội giết người xảy ra nhiều nhất từ khoảng từ 6 giờ đến 18 giờ và thường xảy ra vào các ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần.
đây là thời điểm tập trung nhiều người, các hoạt động sinh hoạt xã hội và sự căng thẳng trong va chạm, mâu thuẫn giữa các thành viên trong xã hội. - Công cụ, phương tiện phạm tội Phương tiện phạm tội được hiểu là những đối tượng được chủ thể của tội phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của mình. Công cụ phạm tôị là một dạng cụ thể của phương tiện phạm tội. Khi thực hiện hành vi giết người, người phạm tội có thể sử dụng hoặc không cần sử dụng phương tiện hay công cụ phạm tội.
Trên thực tế, số lượng các vụ giết người bằng không hành động và không sử dụng đến phương tiện, công cụ phạm tội rất ít. Thông thường, người phạm tội sử dụng các loại phương tiện công cụ chính sau: - Các loại vũ khí nóng bao gồm thuốc nổ, súng, lựu đạn. Loại vũ khí này rất nguy hiểm cho tính mạng của con người và có khả năng làm chết nhiều người cùng một lúc. - Vũ khí lạnh như dao, kiếm, búa, côn, gậy.
Đây là những loại vũ khí thủ công, thô sơ được sử dụng trong các vụ giết người với động cơ mục đích gây rối hoặc mang tính chất côn đồ. 10 - Sử dụng độc tố. - Dìm chết trong nước hoặc chất lỏng khác - Sử dụng công cụ khác Công cụ phương tiện phạm tội không phải là một dấu hiệu định tội song có ảnh hưởng không nhỏ tới tính chất nguy hiểm của hành vi. Vì vậy, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt.
- Phương pháp, thủ đoạn phạm tội. Phương pháp, thủ đoạn phạm tội được hiểu là cách thức thực hiện hành vi phạm tội, trong đó có cách thức sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội. Đây cũng không phải dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội giết người. Tuy nhiên, phương pháp và thủ đoạn phạm tội có sự ảnh hởng không nhỏ tới tính nguy hiểm của hành vi.
Trên thực tế, tội giết người được thực hiện với rất nhiều phương pháp và thủ đoạn khác nhau. Có vụ giết người được thực hiện một cách man rợ và trắng trợn.