Tổng quan nghiên cứu

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của ngành Kiểm sát nhân dân, được hiến định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa tại Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cùng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong bối cảnh tình hình an ninh trật tự tại địa bàn miền núi Tây Nguyên có nhiều diễn biến phức tạp, các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân luôn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định trật tự trị an. Tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai – địa bàn có diện tích tự nhiên 642,96 km2 với quy mô dân số khoảng 100.000 người gồm 15 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn – tình hình tội phạm xâm phạm sức khỏe diễn ra với tính chất ngày càng manh động, phương thức thủ đoạn tinh vi và tính chất côn đồ gia tăng.

Trong giai đoạn 5 năm từ ngày 01/12/2014 đến ngày 30/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê đã tiếp nhận, kiểm sát xử lý 145 tin báo, tố giác tội phạm và thụ lý thực hành quyền công tố trong điều tra 115 vụ án với 139 bị can phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác. Vấn đề nghiên cứu đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và tuyệt đối không làm oan người vô tội.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa bàn huyện Chư Sê trong 5 năm, nhận diện các vướng mắc, hạn chế về năng lực nghiệp vụ và cơ chế phối hợp liên ngành. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc nâng cao các chỉ số nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp huyện: đạt tỷ lệ 100% giải quyết án đúng hạn luật định, giảm thiểu tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng xuống dưới mức 2%, đồng thời nâng cao hiệu lực chế ước đối với Cơ quan điều tra.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, kết hợp với các quan điểm chỉ đạo cải cách tư pháp của Đảng theo Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hệ thống lý luận chuyên ngành Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự được củng cố thông qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Tiến sĩ Lê Hữu Thể về vai trò công tố trong giai đoạn điều tra và luận án tiến sĩ của Tiến sĩ Mai Đắc Biên về so sánh thẩm quyền của Kiểm sát viên theo pháp luật Việt Nam và Liên bang Nga.

Mô hình nghiên cứu vận hành dựa trên 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

Thứ nhất, quyền công tố là quyền lực nhà nước được giao cho Viện kiểm sát thực hiện nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự, khởi tố, điều tra, truy tố và buộc tội người phạm tội trước Tòa án.

Thứ hai, thực hành quyền công tố trong điều tra là hoạt động của Viện kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp lý do pháp luật quy định nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Thứ ba, nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác bao gồm các cấu thành tội phạm quy định từ Điều 134 đến Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khách thể trực tiếp là quyền bất khả xâm phạm về thể xác và sức khỏe của con người.

Thứ tư, mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra là mối quan hệ vừa phối hợp vừa chế ước lẫn nhau theo quy định tại Điều 162, 165 và 167 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cùng Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự, các quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát nhân dân và hồ sơ thực tiễn lưu trữ tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, bao gồm 145 hồ sơ tin báo tố giác, 118 bản yêu cầu điều tra, 115 hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm và 108 bản cáo trạng truy tố.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ N = 115 vụ án với 139 bị can phát sinh trong khung thời gian từ ngày 01/12/2014 đến ngày 30/11/2018.

Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ theo tổng thể thống kê thực tế thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bao quát toàn diện 100% các vụ án xâm phạm sức khỏe xảy ra trên địa bàn huyện Chư Sê trong suốt giai đoạn 5 năm, tránh sai số do mẫu đại diện và bảo đảm phản ánh chính xác bức tranh thực tiễn tội phạm tại địa phương.

Phương pháp phân tích: Kết hợp phương pháp thống kê xã hội học pháp lý, phân tích định tính quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp - so sánh logic và phân tích tình huống thực tế điển hình. Việc kết hợp này giúp đánh giá sâu sắc cả về mặt lượng hóa các chỉ tiêu tố tụng lẫn chất lượng lập luận pháp lý của Kiểm sát viên trong từng hoạt động phê chuẩn lệnh, phê chuẩn quyết định khởi tố và đề ra yêu cầu điều tra.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất: Cơ cấu tội phạm xâm phạm sức khỏe trên địa bàn huyện Chư Sê mang tính tập trung tuyệt đối. Trong tổng số 115 vụ án với 139 bị can thụ lý trong 5 năm, 100% số vụ án đều thuộc tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (trước đây là Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999). Các tội danh khác như tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135) hay gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136) không phát sinh vụ án nào trong suốt giai đoạn này.

Phát hiện thứ hai: Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê đã thực hiện nghiêm túc thẩm quyền phê chuẩn và áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Tổng cộng có 10 lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, 33 quyết định gia hạn tạm giữ lần 1, 14 quyết định gia hạn tạm giữ lần 2, 81 lệnh bắt bị can để tạm giam và 32 lệnh tạm giam được kiểm sát chặt chẽ. Đặc biệt, Viện kiểm sát đã thể hiện bản lĩnh nghiệp vụ khi ra quyết định không phê chuẩn 1 lệnh bắt bị can để tạm giam đối với trường hợp Nguyễn Văn Quả (gây thương tích 9% cho em gái) do bị can có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, đã bồi thường một phần thiệt hại và là lao động chính nuôi 3 con nhỏ.

Phát hiện thứ ba: Hiệu lực của quyền năng đề ra yêu cầu điều tra đạt mức rất cao. Kiểm sát viên đã ban hành tổng cộng 118 bản yêu cầu điều tra bằng văn bản cho 115 vụ án, đạt tỷ lệ 102,6% số vụ án thụ lý. Hoạt động kiểm sát trực tiếp đã phát hiện và yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố bổ sung 2 bị can đồng phạm có dấu hiệu bỏ lọt, tiêu biểu như vụ án Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Văn An ngày 25/02/2018 tại thị trấn Chư Sê (khởi tố bổ sung đối tượng An với vai trò giúp sức chở Tiến đi chém nạn nhân gây thương tích 12%). Ngoài ra, Viện kiểm sát đã 2 lần yêu cầu thay đổi Điều tra viên do có quan hệ họ hàng với bị can nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối.

Phát hiện thứ tư: Kết quả giải quyết án đạt độ chính xác cao. Cơ quan điều tra đã kết thúc điều tra đề nghị truy tố 108 vụ với 132 bị can. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê đã ban hành 108 bản cáo trạng truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện, đạt tỷ lệ truy tố 100% số vụ kết thúc điều tra. Có 5 vụ án với 5 bị can được đình chỉ tại Cơ quan điều tra và 2 vụ án với 2 bị can được đình chỉ tại Viện kiểm sát do người bị hại tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 3 vụ án (4 bị can) phải tạm đình chỉ điều tra để chờ kết luận giám định thương tích, Viện kiểm sát đã kiểm sát chặt chẽ và phục hồi điều tra đạt tỷ lệ 100% ngay khi có kết quả giám định.

Thảo luận kết quả

Diễn biến số lượng tội cố ý gây thương tích qua các năm có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ đường và bảng phân tích biến thiên. Số liệu ghi nhận đỉnh điểm vào năm 2014 với 30 vụ (chiếm 26,08% tổng số vụ), sau đó giảm mạnh xuống 19 vụ vào năm 2015 (chiếm 16,52%), duy trì ở mức 21 vụ năm 2016 (chiếm 18,26%), 19 vụ năm 2017 (chiếm 16,52%) và tăng lên 26 vụ vào năm 2018 (chiếm 22,61%). Sự biến thiên này phản ánh rõ nét tác động từ biến động kinh tế nông nghiệp (giá tiêu, cà phê thay đổi), tình trạng di cư tự do và việc lạm dụng rượu bia tại các vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, một số vụ án xảy ra vào ban đêm, nơi vắng người hoặc trên các tuyến giao thông trọng điểm như Quốc lộ 14 khiến việc thu thập dấu vết vật chứng gặp nhiều trở ngại. Điển hình là vụ án Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Mạnh Cường ngày 20/02/2017 sử dụng súng bắn gây thương tích 14% cho nạn nhân trên Quốc lộ 14 rồi vứt súng tẩu thoát, dẫn đến việc không thu giữ được vật chứng để giám định vũ khí quân dụng.

Về chủ quan, năng lực lập văn bản yêu cầu điều tra của một bộ phận Kiểm sát viên còn mang tính hình thức, có khoảng 10% bản yêu cầu điều tra còn nêu nội dung chung chung hoặc yêu cầu những nội dung bất khả thi. Cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Sê đôi lúc chưa thực sự nhịp nhàng trong giai đoạn xác minh tin báo ban đầu, dẫn đến việc chuyển hồ sơ chậm trễ.

Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc tăng cường trách nhiệm công tố trong điều tra không làm triệt tiêu tính độc lập của Cơ quan điều tra mà ngược lại, thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp chặt chẽ, bảo đảm mọi quyết định hạn chế quyền con người đều được thẩm định nghiêm ngặt theo đúng Hiến pháp và pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng thực hành quyền công tố cho đội ngũ Kiểm sát viên. Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm về kỹ năng khám nghiệm hiện trường, thu thập và đánh giá chứng cứ điện tử, kỹ năng phân biệt tội cố ý gây thương tích với tội giết người chưa đạt. Mục tiêu đạt 100% Kiểm sát viên được bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu và trực tiếp tham gia kiểm sát 100% các hoạt động khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra các vụ án phức tạp từ năm 2020.

Thứ hai, hoàn thiện và chuẩn hóa quy trình xây dựng bản yêu cầu điều tra. Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ ngay từ khi thụ lý tin báo, loại bỏ hoàn toàn các yêu cầu điều tra chung chung, lặp lại. Mục tiêu 100% bản yêu cầu điều tra phải chỉ rõ các mâu thuẫn cần giải quyết, định hướng xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, làm rõ động cơ, nhân thân và tính chất hung khí nguy hiểm. Thời hạn thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình tiến hành tố tụng, bảo đảm tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tố tụng giảm về mức 0% do lỗi chủ quan của Kiểm sát viên.

Thứ ba, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành tư pháp và duy trì chế ước tố tụng. Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Sê cần duy trì quy chế giao ban định kỳ 1 tháng/lần để rà soát toàn bộ các tin báo tố giác tội phạm tạm đình chỉ hoặc quá hạn. Mục tiêu giải quyết dứt điểm 100% các tin báo tồn đọng, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp Điều tra viên vi phạm thời hạn tố tụng hoặc che giấu hành vi phạm tội của đồng phạm, áp dụng từ quý I năm 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin. Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai cần trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật số hóa hồ sơ, lắp đặt hệ thống ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Mục tiêu hoàn thành số hóa 100% hồ sơ các vụ án cố ý gây thương tích trọng điểm và đưa vào vận hành hệ thống lưu trữ điện tử giai đoạn 2020 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn toàn diện về quy trình kiểm sát phê chuẩn 81 lệnh bắt tạm giam, phương pháp xây dựng 118 bản yêu cầu điều tra chất lượng cao và kỹ năng phát hiện dấu hiệu bỏ lọt tội phạm trong các vụ án cố ý gây thương tích tại địa bàn miền núi.

Thứ hai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Tài liệu giúp nắm vững các chuẩn mực pháp lý về tính có căn cứ của quyết định khởi tố bị can, trình tự thu thập chứng cứ định tội, thủ tục trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật và nâng cao hiệu quả phối hợp với Viện kiểm sát nhằm hạn chế tối đa việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Thứ ba, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các cơ sở đào tạo luật học. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cao cho các học phần Luật tố tụng hình sự và Khoa học điều tra hình sự, cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chuẩn xác của 115 vụ án trong giai đoạn 5 năm phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu về quyền công tố và cải cách tư pháp.

Thứ tư, Luật sư, người bào chữa và cán bộ trợ giúp pháp lý. Luận văn cung cấp góc nhìn thực tiễn sâu sắc về các sai sót tố tụng thường gặp của cơ quan tiến hành tố tụng, hỗ trợ luật sư xây dựng chiến lược tranh tụng hiệu quả, kiểm tra tính hợp pháp của biên bản hỏi cung và bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị hại trong các vụ án hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Thực hành quyền công tố trong điều tra khác gì so với hoạt động kiểm sát điều tra?

Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định việc buộc tội như phê chuẩn quyết định khởi tố 139 bị can, ban hành 118 bản yêu cầu điều tra và truy tố 108 vụ án. Trong khi đó, kiểm sát điều tra là hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra và Điều tra viên theo Điều 14 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 nhằm bảo đảm pháp chế được thực hiện nghiêm minh.

Tại sao 100% vụ án xâm phạm sức khỏe tại huyện Chư Sê từ năm 2014 đến năm 2018 chỉ thuộc tội Cố ý gây thương tích?

Qua tổng kết thực tiễn 115 vụ án, đặc điểm tình hình tội phạm tại địa phương chủ yếu bắt nguồn từ mâu thuẫn sinh hoạt nông thôn, tranh chấp đất đai hoặc bộc phát sau khi sử dụng rượu bia. Người thực hiện hành vi phạm tội có ý thức trực tiếp dùng hung khí tấn công gây tổn hại sức khỏe nạn nhân theo Điều 134 Bộ luật Hình sự. Các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ hoàn toàn không phát sinh trên địa bàn trong 5 năm nghiên cứu.

Kiểm sát viên có quyền trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra trong trường hợp nào?

Căn cứ Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Kiểm sát viên trực tiếp lấy lời khai, hỏi cung bị can hoặc thực nghiệm điều tra khi cần kiểm tra tính có căn cứ để phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, khởi tố bị can, hoặc khi phát hiện có dấu hiệu oan sai, bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không khắc phục. Điển hình tại Chư Sê, Kiểm sát viên đã trực tiếp lấy lời khai trong 10 trường hợp bắt người khẩn cấp để đảm bảo tính chuẩn xác trước khi phê chuẩn.

Viện kiểm sát xử lý như thế nào khi phát hiện có người đồng phạm chưa bị Cơ quan điều tra khởi tố?

Kiểm sát viên sẽ báo cáo lãnh đạo Viện ban hành văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Thực tế tại huyện Chư Sê năm 2018, Viện kiểm sát đã phát hiện và yêu cầu khởi tố bổ sung đối tượng Nguyễn Văn An với vai trò đồng phạm giúp sức chở Nguyễn Văn Tiến dùng dao chém nạn nhân gây thương tật 12%, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội và không bỏ lọt tội phạm.

Căn cứ nào để Viện kiểm sát ra quyết định không phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam?

Viện kiểm sát căn cứ vào Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để đánh giá tính cần thiết của biện pháp tạm giam. Trong vụ án Nguyễn Văn Quả (năm 2018) gây thương tích 9%, do bị can phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nuôi 3 con nhỏ và bồi thường thiệt hại, Viện kiểm sát huyện Chư Sê đã kiên quyết không phê chuẩn lệnh tạm giam, thể hiện tính nhân văn và đúng luật.

Kết luận

  • Luận văn đã tổng kết toàn diện thực trạng 115 vụ án với 139 bị can phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê trong giai đoạn 2014 - 2018, khẳng định 100% thuộc tội Cố ý gây thương tích.
  • Nghiên cứu làm rõ vai trò nòng cốt của Viện kiểm sát thông qua việc ban hành 118 bản yêu cầu điều tra, phê chuẩn 81 lệnh bắt tạm giam, truy tố 108 vụ án ra Tòa án và trực tiếp yêu cầu khởi tố bổ sung 2 bị can đồng phạm bỏ lọt.
  • Công trình chỉ ra các hạn chế thực tiễn như việc bỏ lọt vật chứng trong vụ án nổ súng trên Quốc lộ 14 và 2 trường hợp phải yêu cầu thay đổi Điều tra viên có quan hệ gia đình với người phạm tội.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về bồi dưỡng cán bộ, chuẩn hóa bản yêu cầu điều tra, tăng cường giao ban liên ngành và số hóa hồ sơ điều tra đã được xây dựng với lộ trình thực hiện cụ thể đến năm 2025.
  • Đề tài đóng góp nguồn luận cứ khoa học thực tiễn giá trị, góp phần hoàn thiện lý luận tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần cải cách tư pháp.

Các cơ quan tiến hành tố tụng và các nhà nghiên cứu tư pháp cần tiếp tục tham khảo, ứng dụng đồng bộ các kiến nghị của luận văn vào thực tiễn xét xử, điều tra giai đoạn 2020 - 2025 nhằm giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng và toàn quốc nói chung.