phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các Phụ lục, Luận văn bao gồm 3 chương với kết cấu như sau: Chƣơng 1: Nhận thức chung về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Chƣơng 2: Qui định của Pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Chƣơng 3: Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. 6 CHƢƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố 1. Khái niệm quyền công tố Quyền công tố là một lĩnh vực khoa học pháp lý được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu. Có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố và lịch sử xuất hiện của khái niệm.
Khi nghiên cứu về lịch sử xuất hiện quyền công tố, chúng ta thấy rằng quyền công tố gắn liền với bản chất của Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà nước, từ Nhà nước chủ nô đến Nhà nước đại diện1, quyền công tố là một bộ phận không thể tách rời của công quyền. Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước, nhân danh công quyền, thực hiện việc buộc tội đối với những người đã thực hiện hành vi phạm tội, đi ngược lại với ý chí của giai cấp thống trị xã hội, Như vậy cùng với sự xuất hiện của Nhà nước thì quyền công tố cũng xuất hiện. Nhà nước nào cũng sử dụng pháp luật là công cụ để quản lý xã hội, để điều chỉnh các quan hệ xã hội được phát sinh, tồn tại và phát triển theo khuôn mẫu tư tưởng của giai cấp thống trị.
Đồng thời, Nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại khi xuất hiện và tồn tại các mâu thuẫn đối kháng mang tính giai cấp không thể điều hòa được. Điều đó có nghĩa là trong bất kỳ một xã hội nào, khi đã xuất hiện Nhà nước thì bên cạnh giai cấp thống trị luôn có một hoặc nhiều lực lượng thuộc giai cấp bị trị có thái độ thù địch chống lại giai cấp thống trị nắm quyền lực nhà nước. Biểu hiện ra bên ngoài đó là những hành vi vi phạm pháp luật, chống lại ý chí của giai cấp thống trị đến mức nguy hiểm mà giai cấp thống trị cho rằng cần phải bị trừng trị và để thực hiện được điều này thì Nhà nước cần phải buộc được tội đối với họ. Quyền nhân danh Nhà nước - nhân danh công quyền thực hiện việc buộc tội này chính là quyền công tố 2.
Việc tổ chức thực hiện quyền công tố này ra 1 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 2 Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb tư pháp, Hà Nội, tr. 7 sao, nội dung của quyền công tố này như thế nào và phạm vi, giới hạn của quyền công tố đến đâu được mỗi Nhà nước, mỗi quốc gia theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể gắn với những điều kiện cụ thể mà quy định khác nhau. Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức VKSND 1981 là những văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa ra thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng, nhiệm vụ của VKSND.
Như vậy, trong hoạt động của VKSND, bên cạnh khái niệm truyền thống là “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố”. Nhận thức đúng các khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố” là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu về vị trí, vai trò và chức năng của VKS. Nhưng đến nay, khi chúng ta đang trong giai đoạn chuyển mình với chủ trương lớn của Đảng là đẩy mạnh cải cách tư pháp, vẫn chưa đạt có sự thống nhất cao trong nhận thức thế nào là quyền công tố, thế nào là thực hành quyền công tố, các nội dung và phạm vi quyền công tố, thực hành quyền công tố ra sao. Đây là vấn đề cần giải quyết khi xây dựng nhà nước pháp quyền.
Có nhiều quan điểm về quyền công tố nhưng khái quát lại đó có một số quan điểm nổi bật như sau: Quan điểm thứ nhất: Quan điểm đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS. Trước khi Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, quan điểm này cho rằng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS chính là thực hành quyền công tố, nghĩa là ngay cả khi VKS ban hành kiến nghị yêu cầu các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội bị kiểm sát sửa chữa, khắc phục vi phạm pháp luật của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế cũng là hoạt động của VKS khi thực hành quyền công tố. Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật 3. Đây là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát từ khi thành lập năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức VKSND 2002 được ban hành.
Cơ sở cho những lập luận này chính là quy định của các Điều 137 và 138 Hiến pháp 3 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 8 1992 và Luật tổ chức VKSND các năm 1981 và 1992. Thể hiện rõ nhất quan đ iểm này tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND 1992 4. Theo ý kiến của chúng tôi thì hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên là chưa chính xác, đã đồng nhất hoạt động thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đồng thời cũng không phù hợp với Hiến pháp.
Theo Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 thì VKS có hai chức năng: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”5. Điều này tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp 2013: khoản 1 Điều 107 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”6. Việc quy định cụ thể, rành mạch hai chức năng của VKSND đã bác bỏ quan điểm nêu trên. Hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau nhưng mỗi chức năng đều có tính độc lập về nội dung và phạm vi áp dụng.
Không thể đồng nhất hai chức năng này của VKS. Quan điểm thứ hai cho rằng: quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật 7. Theo quan điểm này thì quyền công tố xuất hiện từ khi có sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật, được thể hiện trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội mà quyền công tố còn mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác8. Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tố tụng dân sự, TTHS và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất 9.
Chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố dẫn đến sự xoá nhòa phạm vi và tính đặc thù giữa TTHS 4 Điều 3 Luật tổ chức VKSND 1992 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố bằng 6 công tác. Đó là, công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội; công tác kiểm sát điều tra; công tác kiểm sát xét xử; công tác kiểm sát giam, giữ và cải tạo; công tác kiểm sát thi hành án và điều tra tội phạm”. 5 Nxb lao động – xã hội (2013), Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, Hà Nội, tr. 211 6 Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 , 7 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà nội, tr.
8 Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb tư pháp, Hà Nội, tr. 25 9 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà nội, tr. 9 và các lĩnh vực tố tụng khác. Đặc trưng của TTHS là phát sinh, tồn tại và chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của những người tham gia tố tụng; còn tố tụng dân sự được tiến hành với nguyên tắc đặc trưng là: quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên hoạt động tố tụng này phát sinh, tồn tại và chấm dứt phụ thuộc vào ý chí của đương sự.
Ý chí, lợi ích của bản thân đương sự là động lực chủ yếu của hoạt động tố tụng dân sự, nó quyết định sự vận động của hoạt động tố tụng. Đồng thời, quan điểm nêu trên đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động. Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để truy cứu TNHS và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội. Hay nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.