Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI 1. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng con người. Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm tính mạng con người. - Khái niệm tội xâm phạm tính mạng của con người Tội phạm, theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ.
Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Mỗi một tội phạm đều cấu tạo bởi 4 yếu tố cấu thành bao gồm: Khách thể của tội phạm; mặt khách quan của tội phạm; mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm. Nếu một hành vi nguy hiểm cho xã hội không thoả mãn 4 yếu tố cấu thành tội phạm thì không bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi này không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mỗi một tội phạm đều có những dấu hiệu đặc trưng riêng, đây chính là cơ sở để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác.
Con người được coi là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung bảo vệ. Bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, vì đó là những điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với con người. Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định các tội xâm phạm tính mạng của con người gồm các điều: 8 - Tội giết người (Điều 93); - Tội giết con mới đẻ (Điều 94); - Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95); - Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96); - Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97); - Tội vô ý làm chết người (Điều 98); - Tội vô ý làm chết người do vi phạm qui tắc nghề nghiệp (Điều 99); - Tội bức tử (Điều100); - Tội xúi giục hoặc gúp người khác tự sát (Điều 101); - Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102); - Tội đe doạ giết người (Điều 103); - Tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 117); - Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118); Căn cứ vào các điều luật nêu trên, cũng như căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm tính mạng của con người, tác giả luận văn đồng ý với khái niệm chung về các tội xâm phạm tính mạng của con người của các nhà nghiên cứu luật học. Đó là, khái niệm “Các tội xâm phạm tính mạng là những hành vi (hành động hoặc không hành động) có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác.” - Khái niệm kiểm sát điều tra Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn ngữ Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 2000 thì kiểm sát có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng Quốc gia biên soạn thì kiểm sát là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước. Với cách hiểu trên thì kiểm sát gồm hai hoạt động cơ bản là giám sát và kiểm tra. Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối tượng bị 9 giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa vi phạm đó. Hoạt động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của người, cơ quan bị kiểm tra.
Khoa học luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm “Kiểm sát điều tra”. Theo đó, nội dung của khái niệm “kiểm sát” là hoạt động kiểm tra, giám sát, với đối tượng kiểm tra, giám sát là việc chấp hành pháp luật. Nhưng khái niệm nêu trên còn chung chung, chưa chỉ ra được chủ thể của hoạt động kiểm sát. Theo quy định của pháp luật hiện hành: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014).
[19] Như vậy, “kiểm sát” là một loại quyền lực của Nhà nước, do Viện kiểm sát thực hiện với đối tượng kiểm tra, giám sát là việc chấp hành pháp luật của Nhà nước nói chung và của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong lĩnh vực TTHS nói riêng. Tuy nhiên, hoạt động “kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong TTHS không chỉ có VKS, mà còn có các chủ thể khác như: người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung. Quyền “kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong tố tụng hình sự của các chủ thể khác xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và quyền công dân. Đối với những chủ thể này, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không phải là chức năng hoạt động giống như Viện kiểm sát, mà là các quyền, nghĩa vụ phái sinh từ chức năng hoạt động hay các quyền, các hoạt động mang tính tự nguyện nhằm hướng tới việc phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật và loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân trong tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, các hoạt động trên không thể coi là hoạt động kiểm sát 10 việc tuân theo pháp luật (hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước) trong tố tụng hình sự, mà chỉ là các hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là hình thức thực hiện các quyền năng mà pháp luật TTHS cho phép (tính được đảm bảo bằng quyền lực Nhà nước). Chính điều này làm cho hoạt động giám sát của các chủ thể khác không thể hiện được tính ưu việt giống như hoạt động “kiểm sát” của Viện kiểm sát. - Về đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành xuất hiện hai thuật ngữ “kiểm sát hoạt động tư pháp” (theo Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND hiện hành) và “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” (theo BLTTHS hiện hành) để cùng nói về chức năng kiểm sát của VKSND trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Việc này gây khó hiểu cho người nghiên cứu. Theo Từ điển luật học do Viện khoa học pháp lý – Bộ tư pháp xuất bản năm 2006, thì “kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. [27] Theo khái niệm này thì đối tượng của kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực TTHS là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Nhưng theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành thì hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS của VKS nhằm kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp theo quy định của BLTTHS hiện hành để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này (Khoản 2 Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003).
Theo quy định này, đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS không chỉ là hoạt động của các cơ 11 quan tiến hành tố tụng, mà còn bao gồm hoạt động của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Do đó, khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS rộng hơn khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự [17]. Theo quy định của pháp luật TTHS hiện nay, khái niệm “kiểm sát điều tra vụ án hình sự” cần được hiểu là “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án hình sự”. Về thuật ngữ “tuân theo pháp luật” trong “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án hình sự” cũng cần được hiểu thống nhất.
“Tuân theo pháp luật” cần được hiểu là một thuật ngữ pháp lý thống nhất mang tính chỉnh thể để chỉ một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật. Theo lý luận chung về pháp luật, bốn hình thức thực hiện pháp luật gồm: Tuân thủ pháp luật (tuân theo pháp luật) là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm.