Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN 1. Các vấn đề lý luận liên quan đến xuất khẩu 1. Khái niệm xuất khẩu Khái niệm xuất khẩu nói chung được nhiều công trình nghiên cứu đề cập, phân tích theo từng chủ đích nghiên cứu riêng. Trong giáo trình Kinh tế ngoại thương, Bùi Xuân Lưu (2001) định nghĩa “Xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nước ngoài”.
Feenstra and Taylor (2010) đưa ra một định nghĩa khác về xuất khẩu trong Giáo trình Thương mại quốc tế của đó là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Xuất khẩu ở đây được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Theo Khoản 1, Điều 28 Luật Thương mại năm 2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
Khu vực hải quan riêng được hiểu là khu vực địa lý có địa điểm rõ ràng và xác định trên trên lãnh thổ Việt Nam, được pháp luật Việt Nam và điều ước kinh tế quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc có quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa với phần lãnh thổ còn lại và nước ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu. Đặc điểm của xuất khẩu Xuất khẩu diễn ra trên cả quy mô thời gian và không gian. Thị trường xuất khẩu đa dạng và rộng lớn, không chỉ giới hạn ở một hoặc hai quốc gia mà mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Hiện nay hội nhập kinh tế thế giới ngày càng phát triển, xuất khẩu được đẩy mạnh thông qua sự tham gia của các tổ chức, tập đoàn kinh tế như: WTO, ASEAN,.
nhằm mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị với nhiều quốc gia trên thế giới, thiết lập các thỏa thuận có lợi cho các bên tham gia hoạt động thương mại. Xuất khẩu diễn ra trong nhiều ngành và lĩnh vực. Nếu như xuất phát điểm của xuất khẩu chỉ bao gồm các sản phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp 4 như giày dép, nông sản, thủ công mỹ nghệ, quần áo,. thì ngày nay, xuất khẩu dịch vụ cũng được coi là một trong những ngành có đóng góp lớn cho nền kinh tế nội địa.
Ngày nay, hàng xuất khẩu rất đa dạng, từ xuất khẩu lao động, tri thức đến xuất khẩu hàng tiêu dùng, sản phẩm công nghệ cao. Xuất khẩu chịu tác động của nhiều yếu tố như: chính trị, pháp luật, xã hội, kinh tế,… Mỗi quốc gia phải tính đến những yếu tố này để đảm bảo đạt được những thành tựu và vượt qua những trở ngại, khó khăn. Các yếu tố thiết yếu của xuất khẩu bao gồm từ nghiên cứu và định hướng thị trường đến phân phối và thanh toán hàng hóa và dịch vụ. Xuất khẩu tạo ra nhiều lợi ích kinh tế cho chính phủ và các công ty.
Xuất khẩu giúp phát triển hoạt động sản xuất, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tiết kiệm thời gian trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhờ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và giá trị ngoại tệ. Do đó, xuất khẩu giúp thúc đẩy hợp tác quốc tế với các quốc gia và hội nhập kinh tế trên phạm vi quốc tế. Xuất khẩu có thể tăng doanh thu và lợi nhuận nếu doanh nghiệp tiếp cận thị trường mới và thậm chí họ có thể tạo ra cơ hội để chiếm thị phần toàn cầu quan trọng. Các hình thức xuất khẩu 1.
Xuất khẩu trực tiếp “Xuất nhập khẩu trực tiếp là phương thức tham gia thương mại quốc tế khá phổ biến trên thế giới, trong đó các doanh nghiệp trực tiếp tiến hành trao đổi hàng hóa với các đối tác nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc gia, nâng cao lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh”. Xuất khẩu trực tiếp có ưu điểm là doanh nghiệp loại bỏ được rủi ro nhầm lẫn của hai bên khi qua “người trung gian”, nắm được tình hình của khách hàng một cách rõ ràng. Vậy nên khi doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với thị trường nước ngoài có thể cập nhật chính xác diễn biến tình hình thị trường và thị hiếu tiêu dùng từ đó đưa ra phương án phù hợp với mỗi thị trường cụ thể. Doanh nghiệp xuất khẩu không cần chia lợi nhuận cho bên trung gian nên lợi nhuận tiềm năng cao hơn, tích lũy được kinh nghiệm xuất khẩu ra môi trường quốc tế, chủ động đối phó với các vấn đề khi thị trường biến động.
Bên cạnh đó, khoảng cách địa lý giữa bên nhập khẩu và bên xuất khẩu rất xa nên khi thực hiện việc mua bán có thể xảy ra rủi ro khó lường. Ngoài 5 ra, doanh nghiệp phải có kiến thức kinh doanh đầy đủ về thị trường thế giới nếu không sẽ tiềm ẩn các rủi ro liên quan đến sản phẩm, đối tác, thị trường. Xuất khẩu gián tiếp “Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua trung gian (thông qua người thứ ba). Các trung gian mua bán chủ yếu trong kinh doanh xuất khẩu là: đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu.
(i) Đại lý (Agent): là các cá nhân hay tổ chức đại diện cho nhà xuất khẩu thực hiện một hay một số hoạt động nào đó ở thị trường nước ngoài. (ii) Công ty quản lý xuất khẩu (Export management company): là các công ty nhận ủy thác và quản lý công tác xuất khẩu hàng hóa. Các công ty này có kinh nghiệm trong công tác làm thủ tục xuất nhập khẩu và cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp. (iii) Công ty chuyên doanh xuất khẩu (Export trading company): là công ty hoạt động như nhà phân phối độc lập có chức năng kết nối các khách hàng nước ngoài với các công ty xuất khẩu trong nước để đưa các hàng hóa ra nước ngoài tiêu thụ.
(iv) Đại lý giao nhận vận tải: là các công ty thực hiện dịch vụ thuê vận chuyển và những hoạt động có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa như khai báo hải quan, áp biểu thuế quan, thực hiện giao nhận chuyên chở và bảo hiểm.” Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm là giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường cho hàng hoá của mình, tránh được rủi ro khi thâm nhập vào thị trường mới mà doanh nghiệp chưa biết, với sự nắm bắt chi tiết, hiểu biết rõ ràng của bên nhận uỷ thác thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian cho việc đóng gói, vận chuyển, thuê tàu, mua bảo hiểm. Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm thì hình thức này cũng có nhược điểm. Doanh nghiệp trong nước sẽ mất liên kết trực tiếp với doanh nghiệp ở nước ngoài. Lợi nhuận của doanh nghiệp nhận được phải chia một phần cho bên trung gian vì xuất khẩu gián tiếp sẽ hạn chế mối liên hệ trực tiếp với bạn hàng của nhà xuất khẩu.
Mua bán đối lưu “Mua bán đối lưu là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhận về. 6 Xét theo bản chất, mua bán đối lưu được chia ra các loại hình sau: (i) Hàng đổi Hàng (Barter): là hình thức trong đó các bên cùng trao đổi trực tiếp hàng hóa, dịch vụ này lấy hàng hóa, dịch vụ khác. (ii) Mua đối lưu (Counter purchase): là việc một công ty giao hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng ở một nước khác cam kết sẽ nhận một số lượng hàng hóa xác định trong tương lai từ khách hàng ở nước đó. (iii) Mua bồi hoàn (Off-set): là hình thức trong đó một công ty xuất khẩu cam kết sẽ mua lại nhiều loại hàng hóa của nhiều khách hàng nhằm bồi hoàn giá trị tương đương với khoản hàng hóa đã giao.
(iv) Chuyển nợ: là hình thức trong đó công ty xuất khẩu chuyển trách nhiệm cam kết đặt hàng từ phía khách hàng nước ngoài của công ty cho một công ty khác. (v) Mua lại (Buy-back): là hình thức mua bán đối lưu trong đó công ty xuất khẩu bán một dây chuyền hay thiết bị máy móc cho khách hàng ở thị trường nước ngoài và nhận lại các sản phẩm được sản xuất ra từ dây chuyền hay thiết bị máy móc đó. (vi) Mua bán bù trừ (Compensation): là hình thức hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi trị giá hàng giao, đến cuối kỳ hạn hạn, hai bên mới đối chiếu sổ sách, đối chiếu với giá trị giao và giá trị nhận.” Ưu điểm của mua bán đối lưu là tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng đến giao dịch vì hình thức này không sử dụng tiền tệ làm trung gian và các bên tham gia mua bán không sử dụng tiền tệ làm trung gian nên doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí thanh toán và giao dịch với ngân hàng. Nhược điểm của mua bán đối lưu thể hiện rõ ở sự phức tạp về nghiệp vụ và nguyên tắc ứng dụng; Hoạt động phức tạp và khó khăn hơn vì loại hình đối lưu gắn chặt với xuất khẩu và nhập khẩu.
Có trách nhiệm và nghĩa vụ lớn hơn vì người mua đồng thời là người bán; Bởi vì hình thức mua bán đối lưu dựa trên một số nguyên tắc đòi hỏi sự cân bằng nên khả năng áp dụng của nó đối với tất cả các loại hàng hóa bị hạn chế. Xung đột nảy sinh thường xuyên do các hình thức cân bằng và định giá của đối tác, chẳng hạn như nhượng bộ hoặc áp đặt. Tạm nhập tái xuất 7 “Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”.