CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM ĐIỆN THOẠI CỐ ĐỊNH 1.1 Vận dụng một số lý thuyết trong thúc đẩy xuất khẩu điện thoại cố định 1.1 Lý thuyết về lợi thế so sánh Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối cho thấy một nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng hoá, nước đó sẽ thu được lợi ích ngoại thương, nếu chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối. Tuy nhiên, do lý thuyết này chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối nên đã không giải thích được vì sao một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với nước khác, hoặc một nước không có lợi thế nào vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để phát triển mạnh các hoạt động thương mại quốc tế. Để khắc phục những hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và cũng trả lời những câu hỏi trên đây, năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những nguyên lý của kinh tế chính trị” nhà kinh tế học cổ điển người Anh David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế. Lý thuyết bao gồm các nội dung sau: - Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: quá trình phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước.
Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ các nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế. - Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất 6 định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. Do đó có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyết lợi thế so sánh là những lợi ích do quá trình chuyên môn hoá sản xuất và thương mại quốc tế phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thương mại quốc tế.
Nói tóm lại, lợi ích thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi thế so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể được biểu hiện bằng các chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thương mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về các chi phí cơ hội của mỗi quốc gia. Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tương đối (chi phí so sánh) để làm ra sản phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia, hay nói cách khác, khi các chi phí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không có lợi thế so sánh và cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên môn hoá và thương mại quốc tế. Đó cũng là nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế so sánh đã được David Ricardo khẳng định là: các nước sẽ có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội (chi phí so sánh) thấp hơn so với các nước khác. Quy luật này sau đó đã được nhiều nhà kinh tế khác tiếp tục phát triển, hoàn thiện, trở thành quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế.2 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Theo Michael Potter về lợi thế cạnh tranh: lợi thế cạnh tranh về cơ bản xuất phát từ giá trị mà một doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua và giá trị đó vượt quá phí tổn của doanh nghiệp đó.
Giá trị mà Michael Potter muốn nói ở đây chính là giá trị khách hàng mong muốn ở sản phẩm của doanh nghiệp, và điều thể hiện rõ ràng là lợi ích mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng càng nhiều bao nhiêu thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao bấy nhiêu. Hoặc diễn giải theo mục tiêu của doanh nghiệp, thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu như là khả 7 năng của một doanh nghiệp thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực, về việc thực hiện mục tiêu quan trọng nhất đó là lợi nhuận. Lợi thế cạnh tranh biểu hiện ở hai phương diện: - Thứ nhất: chi phí thấp, từ đó định ra giá bán thấp hơn đối thủ cạnh tranh. - Thứ hai: tạo ra sự khác biệt hóa so với đối thủ cạnh tranh.
Sự khác biệt hóa ở đây có thể là về chất lượng sản phẩm, thương hiệu, hình thức bao bì màu sắc của sản phẩm, hay ngay cả các chương trình chăm sóc khách hàng và hậu mãi cũng tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm. Trên cơ sở của sự khác biệt hóa đó, doanh nghiệp có thể áp đặt giá cao để bù đắp cho việc tạo ra sự khác biệt hóa đó. Các nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh chủ yếu là nguồn lực bên trong để phát triển lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là: tài sản, tài năng và năng lực. Tài sản bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình mà nhà quản trị có thể sử dụng được, những tài sản này được thể hiện trên bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp.
Các tài sản hữu hình bao gồm: máy móc, thiết bị, tiền bạc, nhà xưởng, vật tư… Tài sản vô hình bao gồm: nhãn hiệu, sự độc quyền về phát minh, tên tuổi công ty… Những tài sản này có thể xác định bằng giá trị thị trường, có khả năng mua bán và quy đổi ra tiền. Tài năng là tài sản vô hình mà khi chuyển giao nó cho doanh nghiệp khác sẽ gặp khó khăn, bao gồm: bí quyết, kỹ thuật, công nghệ và kỹ năng riêng có của doanh nghiệp. Phần lớn tài năng này gắn với cả một tập thể lao động, với cấu trúc và quy trình của hệ thống sản xuất. Những yếu tố tài năng thông thường dựa trên khối lượng kiến thức ngầm được tích lũy lâu dài, không mã hóa, không phân loại và diễn đạt bằng văn bản, như một yếu tố thuộc tính doanh nghiệp, khó có thể tách doanh nghiệp và thuộc tính của nó thành hai phần riêng rẽ.
Như vậy nguồn lực tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu là nội lực trong đó có cả những nguồn lực thuộc về vô hình và hữu hình, là những giá trị vừa có thể định giá được trên thị trường nhưng cũng có những giá trị rất khó định giá được trên thị trường. Chính nguồn nội lực sẽ quyết định thành công hay thất bại của một doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh. 8 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm 6 yếu tố: điều kiện về các nhân tố sản xuất; điều kiện về nhu cầu; chiến lược doanh nghiệp, cấu trúc ngành và mức độ cạnh tranh; cơ may; vai trò của nhà nước và sự liên kết và hỗ trợ của các ngành liên quan. Các điều kiện về yếu tố sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, trình độ khoa học công nghệ, máy móc thiết bị, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng.
Các điều kiện về nhu cầu, doanh nghiệp có thể phát triển ở những nơi mà sự xuất hiện của khách hàng chủ yếu ở đây có thể khuyến khích sự phát triển và thúc đẩy lợi thế cạnh tranh giữa các nhà cung cấp. Chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và sự cạnh tranh: các chiến lược sản xuất thu mua, marketing và thái độ của hãng đối với sự hợp tác và cạnh tranh sẽ đóng góp vai trò quan trọng tác động đến sự phát triển của các doanh nghiệp. Các ngành hỗ trợ liên quan, sự gần gũi của các nhà cung cấp và các hãng hỗ trợ khác có liên quan có thể giúp cho việc đổi mới và cắt giảm chi phí giao dịch của doanh nghiệp. Chính phủ có thể tác động đến sự phát triển của các doanh nghiệp thông qua phân bổ vốn cho các ngành đầu tư cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và triển khai chính sách đối với việc sử dụng đất đai.
Tác động của môi trường bên ngoài, những thay đổi của môi trường bên ngoài như sự biến động của tỷ giá hối đoái, quyết định chính sách của chính phủ nước ngoài, thiên tai, chiến tranh, có thể ảnh hưởng đến các nhân tố ở trên, do đó đây cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp.3 Lý thuyết về lợi thế kéo đẩy Lợi thế kéo hình thành bằng việc xác lập thương hiệu vào tâm trí người tiêu dùng nhằm lôi kéo khách hàng hoặc người tiêu dung bằng cách sử dụng các công cụ tiếp thị tác động trực tiếp tạo ra nhu cầu. Ví dụ như một doanh nghiệp hay sản phẩm ‘thương hiệu mạnh’ có một lực kéo mạnh hơn một thương hiệu ít người biết đến. 9 Xây dựng thương hiệu mạnh là một quá trình liên tục và không có điểm kết thúc của doanh nghiệp, đây chính là xây dựng sự phát triển bền vững và dài hạn. Các chiến lược xúc tiến marketing hỗn hợp như quảng cáo thông qua báo chí, truyền hình, tài trợ, quảng cáo lưu động, một số chương trình PR… đều tạo ra lực kéo.
Qua các công cụ marketing này, mục tiêu của nhà sản xuất hay cung cấp dịch vụ là làm sao để tác động lôi kéo, gây sự chú ý, tạo nhu cầu cần thiết, kích thích sự ham muốn phải có ngay sản phẩm/dịch vụ đó trong tâm trí khách hàng. Và khi đã có nhu cầu, khách hàng sẽ tìm đến các cấp trung gian (đại lý, nhà phân phối) để mua sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Lợi thế đẩy hình thành dựa trên tất cả các nỗ lực nhằm đẩy hàng hóa dịch vụ đến các cấp trung gian như hệ thống tiêu thụ (các nhà phân phối, trung gian hay người bán).