CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1. Đặc điểm và phân loại dịch vụ khách hàng của Công ty kiểm toán độc lập 1. Bản chất dịch vụ khách hàng của công ty kiểm toán độc lập Dịch vụ khách hàng của công ty kiểm toán độc lập là một loại sản phẩm dịch vụ do các doanh nghiệp kiểm toán cung cấp trên thị trường. Bản chất các công ty kiểm toán là một dạng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kiểm toán và cung cấp các loại sản phẩm liên quan đến dịch vụ kiểm toán.
Các doanh nghiệp kiểm toán độc lập này hoạt động theo hình thức là thu phí kiểm toán của khách hàng rồi cung cấp dịch vụ kiểm toán theo nhu cầu của khách hàng nên cũng được xét thuộc nhóm ngành cung cấp dịch vụ. Khái niệm về dịch vụ khách hàng của công ty kiểm toán độc lập bắt nguồn từ khái niệm kiểm toán. Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Kiểm toán độc lập có nhiều các định nghĩa khác nhau nhưng theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì đó là quá trình các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và tŕnh bày ý kiến của mình về các báo cáo tài chính được kiểm toán.
Ở Việt Nam theo định nghĩa trong Luật kiểm toán độc lập thì định nghĩa: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán.” Trong đó, kiểm toán viên là người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam. 7 Về bản chất, kiểm toán là một trong những nghề có lịch sử phát triển lâu đời nhất của xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội thì khái niệm kiểm toán cũng dần được xây dựng, phát triển và hoàn thiện phù hợp với môi trường điều kiện của xã hội. Kiểm toán bắt nguồn từ thuật ngữ “Audit” trong tiếng Latin.
Vào khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên, chính quyền La Mã đã tuyển dụng các quan chức để kiểm tra độc lập về tình hình tài chính và nghe thuyết trình của họ về kết quả kiểm tra này. Có rất nhiều định nghĩa về kiểm toán, mỗi quốc gia, mỗi hiệp hội, mỗi nhóm chuyên gia nghiên cứu lại có những phát biểu khác nhau về kiểm toán. Theo định nghĩa của các chuyên gia về lĩnh vực kiểm toán tại Pháp cho rằng: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản hàng năm của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”. Một khái niệm khác: "Kiểm toán là quá trình mà theo đó một cá nhân độc lập, có quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực đã được xây dựng".
Ở Việt Nam và theo phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam. Do vậy Luận văn tìm hiểu Kiểm toán theo khái niệm về kiểm toán được Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng.” Ở nước ta quy định nhóm ngành mã 69200 là: “Hoạt động liên quan đến kế toán, kiểm toán và tư vấn về thuế”. Hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh kiểm toán độc lập không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu của dịch vụ về dịch vụ kiểm toán, về thuế, về tài chính… cho khách 8 hàng, như vậy kiểm toán độc lập đã gián tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế. Khái niệm về sản phẩm dịch vụ nói chung là hết sức phức tạp, khái niệm về sản dịch vụ kiểm toán lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh này.
Thực chất kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp luật bảo hộ và thừa nhận. Kiểm toán độc lập cũng hoạt động kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng cũng thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính hoặc tư vấn tài chính kế toán. Nhưng chủ yếu kiểm toán độc lập thường được yêu cầu kiểm toán báo cáo tài chính là chủ yếu. Như vậy quan hệ giữa chủ thể kiểm toán độc lập và các khách thể là các đơn vị được kiểm toán thực chất là quan hệ mua bán dịch vụ kiểm toán độc lập.
Khi là một loại dịch vụ thì kiểm toán độc lập cũng có những tính chất cơ bản giống dịch vụ như là: Sản phẩm của dịch vụ kiểm toán độc lập không tồn tại dưới hình thức sản phẩm cụ thể. Điểm đặc biệt so với các dịch vụ khác đó là sản phẩm của kiểm toán độc lập là các báo cáo kiểm toán nó không đáp ứng một nhu cầu tiêu dùng cụ thể nào mà nó đáp ứng yêu cầu cần sự chính xác tin cậy về thông tin tài chính cho những đối tượng cần biết thông tin như là Cơ quan quản lý kinh tế, bản thân doanh nghiệp, các cổ đông, khách hàng… Sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ kiểm toán diễn ra đồng thời. Dịch vụ kiểm toán chỉ sản xuất hay cung cấp theo yêu cầu của khách hàng khi khách hàng có đơn đặt hàng hoặc có yêu cầu. Sản phẩm dịch vụ kiểm toán độc lập đặc biệt có tính chất thời vụ.
Tính thời vụ thể hiện rõ nét trong dịch vụ kiểm toán hình thành những đặc thù riêng đối với ngành nghề kinh doanh dịch vụ kiểm toán độc lập. Đó là “mùa kiểm toán” Như vậy, Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật riêng của kiểm toán, do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực. 9 Dịch vụ khách hàng kiểm toán độc lập cũng có nguồn gốc từ dịch vụ nói chung. Do vậy, dịch vụ kiểm toán độc lập cũng có những đặc điểm và nội dung của các sản phẩm dịch vụ nói chung.
Bản chất dịch vụ là một khái niệm còn đang hoàn thiện và phát triển do khái niệm dịch vụ được xây dựng, phát triển và hoàn thiện cùng với sự phát triển của nhân loại. Khi nền kinh tế hàng hóa toàn cầu càng phát triển thì lĩnh vực dịch vụ ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Sự đa dạng trong nền kinh tế hàng hóa kéo theo ngành dịch vụ cũng thể hiện được sự phong phú của mình. Dịch vụ ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng của nó và đã trở thành đối tượng được quan tâm nhiều nhất trong những thập kỷ qua.
Nhiều ngành nghề, lĩnh vực cũng như các nhà kinh tế, nhà quản lý đến các nhà chính trị, các nhà tâm lý học… và các nhà văn hóa đã dày công nghiên cứu về dịch vụ. Bởi ý nghĩa thiết thực và quan trọng của dịch vụ mang lại cho đời sống xã hội của loài người trong tiến trình phát triển của nhân loại. Ngay từ đầu thế kỷ XVIII, thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghiệp, tích lũy tư bản mà đi tiên phong cho cuộc cách mạng ấy là các nước ở Châu Âu. Cuộc cách mạng công nghiệp dẫn đến sự chuyển biến mạnh mẽ trong phương thức sản xuất.
Phương thức sản xuất xã hội biến đổi đã tạo điều kiện thuật lợi cho sự ra đời của các học thuyết kinh tế tư bản ra đời. Adam Smith là một trong những đại biểu đi đầu tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và phát triển các học thuyết kinh tế. Mà công trình ông xây dựng cho đến ngày nay vẫn còn nhiều ý nghĩa thiết thực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Theo định nghĩa của Adam Smith cho rằng: "dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công.Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra".
Như vậy theo Adam Smith, dịch vụ là nghề mà sản xuất và tiêu thụ đồng thời. Theo góc độ nghiên của ông thì dịch vụ là những sản phẩm khác với sản phẩm vật chất bình thường. Dịch vụ được sản xuất ra như sản phẩm thông thường là sau khi sản xuất ra không thể đem cất kho, dự trữ và đem bày bán trên trong các cửa hàng rồi sau đó đợi khách hàng mua về, sau khi khách hàng mua về và tiêu thụ chúng hoặc sử dụng 10 chúng để tái sản xuất thì sản phẩm mới mất đi hoặc chuyển sang trạng thái khác. Dịch vụ không có quá trình lưu thông như những sản phẩm vật chất bình thường mà dịch vụ vừa được tạo ra thì cũng kết thúc luôn vì quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ là diễn ra đồng thời không thể tách rời hai quá trình này được.
Lý thuyết này thể hiện rõ ràng chính xác khi áp dụng vào một trường hợp cụ thể nào ví dụ khi một người vũ công múa balê cho khán giả giải trí thì việc họ múa trên sàn diễn là việc sản xuất tạo ra dịch vụ còn việc khán giả xem chính là việc tiêu thụ sản phẩm do người vũ công tạo ra, và khi người vũ công kết thúc quá trình biểu diễn của mình thì cũng là lúc người xem kết thúc quá trình tiêu thụ của họ.