Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC TRONG HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự Thủ tục thi hành án dân sự là phương thức, cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thi hành các BA, QĐ về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính và quyết định khác do cơ quan, tổ chức THADS thực hiện theo quy định pháp luật. “Thủ tục” xét về mặt ngôn ngữ có nghĩa là “những việc cụ thể phải làm theo một trình tự đã được quy định, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [14, tr. Trình tự là “sự sắp xếp thứ tự trước sau” [14, tr.
“Thi hành án” Trong khoa học pháp lý được hiểu là việc đưa các BA, QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế. Bản án, Quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính… Có thể nói, THA được coi là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước. Bởi lẽ, thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền lực của Nhà nước, mặt khác lại là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi bị xâm hại. Trong các công trình nghiên cứu khoa học về thi hành án, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm THA: Có quan điểm xem thi hành án là một giai đoạn tố tụng, đây là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Quan điểm cho rằng thi hành án là giai đoạn kết thúc của tố tụng mà 6 trong đó cơ quan thi hành án đưa các Bản án, Quyết định đã có hiệu lực thi hành ra thi hành nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Có quan điểm lại cho rằng thi hành án là một hoạt động mang tính chấp hành và điều hành Quyết định của Tòa án – cơ quan tư pháp – mang tính chất của hoạt động quản lý hành chính – tư pháp. Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án. Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang tính hành chính – tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của thi hành án hình sự đối với loại hình phạt không phải hình phạt tù…).
Quan điểm của tác giả đồng nhất với quan điểm cho rằng:“Thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành để thi hành Bản án, Quyết định của Tòa án hoặc Quyết định của cơ quan Nhà nước, tổ chức khác do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Thi hành án bao gồm thi hành án hình sự và thi hành án dân sự. Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn về thủ tục thi hành án dân sự, các quan điểm trên về thi hành án đều có những điểm hợp lý, song dù theo quan điểm nào thì thủ tục thi hành án dân sự có đặc điểm sau: Thi hành án dân sự là cách thức, trình tự tổ chức thi hành BA, QĐ dân sự có hiệu lực thi hành được pháp luật quy định, bao gồm nhiều thủ tục khác nhau. Thủ tục thi hành án dân sự do pháp luật quy định, quá trình THADS thực hiện thông qua nhiều thủ tục và theo một trình tự nhất định.
Thủ tục thi hành án dân sự bao gồm nhiều bước để đưa một Bản án, Quyết định của Tòa án ra thi hành. Đầu tiên là thủ tục cấp Bản án, Quyết định của Tòa án cho đương sự và chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành; tiếp theo đến thủ tục yêu cầu thi hành án của đương sự, nộp đơn yêu cầu thi hành án, thủ tục nhận hoặc từ chối nhận đơn của cơ quan thi hành án dân sự; thủ tục ra Quyết định 7 thi hành án của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, trong quá trình thi hành án có thể phát sinh các thủ tục như xác minh… cho đến chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án, nộp phí thi hành án…rồi cuối cùng kết thúc thi hành án. Trong quá trình thi hành án dân sự, ở mỗi giai đoạn thực hiện từng thủ tục là khác nhau và các thủ tục này liên kết toàn bộ quá trình thi hành án dân sự. Thủ tục trong hoạt động thi hành án dân sự là thủ tục nhằm thi hành phán quyết của các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.
Thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, xét xử chính là tiền đề của THADS. Hoạt động thi hành án được tiến hành dựa trên nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án là bản án, quyết định của các cơ quan nói trên đã có hiệu lực pháp luật. Ngược lại, THADS tiếp nối với xét xử làm bản án, quyết định được thực hiện trên thực tế.
Sau khi có bản án, quyết định của tòa án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trên cơ sở của bản án, quyết định do tòa án và các cơ quan này chuyển giao hoặc đơn yêu cầu THA của đương sự, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành và thụ lý, tổ chức việc thực hiện thi hành án. Tuy nhiên THA lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan THADS đối với THADS. Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THA. Các cơ quan, tổ chức, công dân trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả.
Nhằm bảo đảm hiệu lực thi hành của các bản án, quyết định của các cơ quan Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, hiện nay nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan này được quy định tại các Điều từ Điều 465 đến 467 Bộ luật TTDS năm 2015, Điều 66 và 67 Luật trọng tài thương mại, từ Điều 134 đến Điều 135 Nghị định số 8 116/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh và các Điều 26, 27, 28, 48, 49 và 179 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thi hành án dân sự ở Việt Nam giao cho cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp thực hiện. Mặc dù có sự lệ thuộc và chịu sự chi phối vào giai đoạn xét xử, nhưng THA cũng mang tính độc lập. Ở giai đoạn THA, tính chất tố tụng đã chấm dứt, bởi vì khi Bản án, Quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì có nghĩa là chức năng xét xử đã hoàn thành, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng.
Để đảm bảo hiệu quả của THADS thì cơ quan THADS và chấp hành viên phải thực hiện thủ tục THA một cách độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự. Cơ quan, tổ chức THA phải tuân thủ đúng thủ tục THA trong quá trình tổ chức việc THA. Cơ sở của hoạt động THA là các Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành; bản án, quyết định do các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh sau khi được tuyên sẽ được cơ quan THADS thi hành. Ở Việt Nam, ngoài cơ quan THADS của Nhà nước còn có tổ chức Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại TP Hồ Chí Minh và hiện nay được nhân rộng ra phạm vi các nước theo Nghị định số 107 ngày 26/11/2015, thì một số thủ tục THADS do Văn phòng thừa phát lại thực hiện như: Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan THADS; xác minh điều kiện THA theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức THA các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự.
Thừa phát lại không tổ chức THA các Bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định THA. Tòa án có trách nhiệm gửi bản án, quyết định tới cơ quan THADS và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Thủ tục THA do cơ quan THADS thực hiện từ việc ra quyết định thi hành án, hoãn, tạm đình chỉ THA, việc cưỡng chế THA, …cho đến khi kết thúc THA. Cơ quan THA là cơ 9 quan chuyên trách để thực thi các Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành trên thực tế.
Việc ra quyết định THA để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự do Thủ trưởng cơ quan THADS đảm nhiệm. Trước đây, pháp lệnh THADS 1989 việc ra quyết định THA còn do Chánh án Tòa án sơ thẩm xét xử vụ án, điều này dẫn đến việc chồng chéo và gánh nặng cho Tòa án, từ pháp lệnh năm 1993, pháp lệnh THADS 2004 và Luật THADS năm 2008 hiện nay, việc THA chỉ do cơ quan chuyên trách thi hành án thực hiện, đảm bảo tính công bằng, khách quan. Ý nghĩa của việc xây dựng thủ tục thi hành án dân sự. Thứ nhất, thủ tục THADS là cơ sở pháp lý đảm bảo thi hành BA, QĐ có hiệu lực thi hành và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Kết quả của quá trình xét xử là giải quyết các tranh chấp và đưa ra các BA, QĐ có hiệu lực thi hành. Nhưng những bản án, quyết định đó, nếu không được đưa ra thi hành thì chỉ là phán quyết trên giấy tờ, không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên trong quan hệ THADS, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đơn sự.