Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cưỡng chế thi hành án dân sự 1. Khái niệm Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án. Đặc điểm của cưỡng chế thi hành án dân sự Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước.
Tr 195] Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của tòa án. Tr 196] Thứ ba, đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản hoặc hành vi của người phải thi hành án. Tr 197] Thứ tư, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, người bị áp dụng ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản án, quyết định do tòa án tuyên họ còn phải chịu mọi chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự.Tr 197] Thứ năm, các biện pháp cưỡng chế được chấp hành viên quyết định áp dụng không những có hiệu lực đối với người phải thi hành án dân sự mà còn có hiệu lực cả đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Phân loại cưỡng chế thi hành án dân sự Điều 71 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) đã quy định 06 biện pháp cưỡng chế THADS gồm: - Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
6 - Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. - Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. - Khai thác tài sản của người phải thi hành án. - Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định. Trên cơ sở 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, Luật THADS đã chia thành các nhóm tài sản cưỡng chế và hành vi cưỡng chế gồm: + Cưỡng chế thi hành án với tài sản là tiền; + Cưỡng chế thi hành án với tài sản là giấy tờ có giá; + Cưỡng chế thi hành án với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ; + Cưỡng chế thi hành án với tài sản là vật; + Cưỡng chế khai thác đối với tài sản; + Cưỡng chế trả vật, giấy tờ, chuyển quyền sử dụng đất; + Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc phải thực hiện hoặc không thực hiện công việc định. Chấp hành viên phải căn cứ vào nghĩa vụ của người phải thi hành án và biên bản xác minh điều kiện thi hành án lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án. Mối quan hệ giữa cưỡng chế thi hành án dân sự với các biện pháp cưỡng chế khác của nhà nước Cưỡng chế nhà nước xã hội chủ nghĩa là cưỡng chế của đa số đối với thiểu số và được áp dụng trong giới hạn do pháp luật quy định một cách chặt chẽ.
Đó là bạo lực dựa trên cơ sở pháp luật, vừa đảm bảo việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, kỉ luật nhà nước đồng thời đảm bảo quyền lợi chính đáng của công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Có 4 loại cưỡng chế nhà nước bao gồm: Cưỡng chế hình sự: Là các biện pháp mà cơ quan tư pháp (Toà án) áp dụng đối với cá nhân thực hiện hành vi được pháp luật quy định là tội phạm hình sự, người thực 7 hiện hành vi phạm tội có thể bị phạt tiền, phạt tù hoặc bị áp dụng các chế tài (biện pháp xử lý) hình sự khác. [40] Cưỡng chế dân sự: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước mà cơ quan tư pháp (Tòa án dân sự) áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật dân sự, gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc công dân. Toà án có thẩm quyền quyết định các biện pháp cưỡng chế dân sự (như buộc bồi thường thiệt hại).
[40] Cưỡng chế kỷ luật: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan quản lý áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm kỷ luật lao động. Các biện pháp cưỡng chế kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, hạ ngạch, buộc thôi việc. [40] Cưỡng chế hành chính: Là biện pháp cưỡng chế do các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính. Cưỡng chế hành chính bao gồm các hình thức xử phạt hành chính như cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật vi phạm, các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ người, tạm giữ tang vật, khám nơi cất giấu tang vật vi phạm.
Các biện pháp xử lý hành chính khác như đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh. [40] Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, biện pháp cưỡng chế được các chủ thể quản lý sử dụng là các biện pháp cưỡng chế hành chính và cưỡng chế kỷ luật. Các biện pháp cưỡng chế hình sự và cưỡng chế dân sự không thuộc thẩm quyền áp dụng của cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Về cơ bản, các biện pháp cưỡng chế nhà nước đều có nội dung cụ thể như sau: Một là, chủ thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước phải là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật như: cơ quan công an, ủy ban nhân dân…[40] Hai là, đối tượng bị áp dụng của các biện pháp cưỡng chế nhà nước là cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định như: cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.
[40] Ba là, biểu hiện của các biện pháp cưỡng chế nhà nước là buộc cá nhân, tổ chức phải chấp hành các quyết định đơn phương của chủ thể quản lý. Cụ thể là buộc cá 8 nhân, tổ chức phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định về mặt tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân. [40] Cưỡng chế thi hành án dân sự có mối quan hệ mật thiết đối với các biện pháp cưỡng chế nhà nước khác. Cụ thể như sau: Đối với cưỡng chế hình sự: Theo Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì một trong những biện pháp cưỡng chế gồm có: “Áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản”.
Trong bốn biện pháp cưỡng chế hình sự thì có 02 biện pháp là kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản có liên quan đến thủ tục thi hành án dân sự. Đối với cưỡng chế dân sự: Cơ quan thi hành án dân sự với chức năng tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự theo quy định của pháp luật (Điều 2 Luật Thi hành án dân sự hiện hành) nên các biện pháp cưỡng chế mà tòa án áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật dân sự mà đặc biệt là các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà tòa án có quyền áp dụng (được quy định cụ thể tại Chương 3 các điều 111, điều 112, điều 113 và điều 114 Luật Tố tụng dân sự năm 2015) phải được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với cưỡng chế kỷ luật: Hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự chịu sự quản lý, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ và Bộ tư pháp theo ngành dọc (cụ thể quy định tại Chương 2 từ điều 13 đến điều 16 Luật Thi hành án dân sự hiện hành) và bảo đảm sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cùng cấp (cụ thể quy định tại Điều 173 và 174 Luật Thi hành án dân sự hiện hành). Các biện pháp cưỡng chế kỷ luật luôn được áp dụng đối với các cán bộ công chức trong ngành thi hành án dân sự có hành vi vi phạm pháp luật và kỷ luật lao động.
Đối với cưỡng chế hành chính: Theo khoản 2 Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính bao gồm: “a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm; 9 b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản. d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.” Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản. Quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự là một trong những quyết định nằm trong thủ tục thi hành án dân sự trong quá trình giải quyết việc thi hành án nên có tính chất đặc thù riêng. Trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến quyết định cưỡng chế thi hành án cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì theo quy định tại khoản 1 Điều 140, khoản 1 Điều 160 Luật thi hành án dân sự hiện hành, họ có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên.
Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự.