Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân. Chương 2: Thực tiễn thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng về thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH, THƢƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Những vấn đề lý luận về thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thƣơng mại của Tòa án nhân dân 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động thi hành các Bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân 1. Khái niệm: * Bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân: Bản án là văn bản ghi nhận phán quyết của Tòa án nhân dân (TAND) sau khi xét xử một vụ án. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ viết bản án. Như vậy, bản án chính là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất và cuối cùng trong một vụ án được đưa ra xét xử.
Nội dung của văn bản này chính là ghi nhận phán quyết của TAND sau khi xét xử một vụ án. Bản án sẽ tổng hợp tất cả các quá trình, diễn biến, nội dung của vụ án sau đó đưa ra phán quyết cuối cùng và bắt buộc các bên phải thực hiện theo, trường hợp không thực hiện sẽ có cơ quan thi hành án cưỡng chế thực hiện. Quyết định là loại văn bản thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhân danh người ký hoặc nhân danh cơ quan, tổ chức đó. Đặc thù của bản án, quyết định KDTM bắt nguồn từ bản chất của tranh chấp hoặc yêu cầu về KDTM.
Theo đó, tranh chấp, yêu cầu KDTM được hiểu là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện hoạt động KDTM. Các tranh chấp, yêu cầu này phát sinh chủ yếu giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và thực hiện các hoạt động KDTM nhằm mục đích lợi nhuận. Trên thực tế các tranh chấp, yêu cầu KDTM rất đa dạng, tuy nhiên dưới góc độ pháp luật thực định thì tranh chấp KDTM đã được xác định tại Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 (Điều 30 và Điều 31). Theo đó, các tranh chấp, yêu cầu KDTM cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án sẽ là cơ sở để TAND ban hành bản án, quyết định và cũng là cơ sở để các cơ quan THADS tổ chức thi hành theo luật định.
8 * Hoạt động thi hành án dân sự THA là hoạt động diễn ra sau khi TAND đã có phán quyết giải quyết các tranh chấp trong xã hội, là việc đưa bản án có hiệu lực vào thi hành trên thực tế. Pháp luật Việt Nam trao quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết định của TAND cho Cơ quan THADS. Cơ quan THADS là cơ quan nhà nước duy nhất có thẩm quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết định của TAND theo các nguyên tắc, trình tự, thủ tục được pháp luật về THADS quy định. Tại Điều 13 Luật THADS (được sửa đổi, bổ sung năm 2022) quy định hệ thống tổ chức cơ quan THADS bao gồm: cơ quan quản lý THADS; cơ quan THADS.
Trong đó, cơ quan THADS được phân cấp thành cơ quan TAHDS cấp tỉnh, cơ quan THADS cấp huyện và cơ quan THADS cấp quân khu và tương đương. Như vậy, có thể khái quát khái niệm THADS là hoạt động tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành, do Cơ quan THADS tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm thi hành phần tài sản, lợi ích của các bên trong bản án, quyết định của TAND. * Hoạt động thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án Từ khái niệm về THADS nói chung, phải khẳng định thi hành các bản án, quyết định KDTM của Tòa án là một bộ phận của hoạt động THADS. Tại các quy định của pháp luật THADS thì yếu tố "kinh doanh, thương mại" chưa được thể hiện rõ (ngoài đối tượng là quyết định của Trọng tài thương mại).
Tuy nhiên, án KDTM là loại án có vị trí quan trọng trong lĩnh vực THADS, xuất phát từ tính chất và giá trị phải thi hành. Hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định KDTM của TAND được thực hiện theo các quy định của pháp luật THADS vì không tồn tại một hệ thống pháp luật THA KDTM chuyên biệt, độc lập so với hệ thống pháp luật THADS nói chung. Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Luật THADS (được sửa đổi, bổ sung năm 2022) thì các bản án, quyết định KDTM của TAND đưa ra thi hành bao gồm: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và Bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật vẫn có thể được thi hành ngay. Từ những phân tích trên có thể định nghĩa thi hành các Bản án, quyết định của Tòa án về KDTM của TAND là hoạt động do Cơ quan THADS tiến hành theo trình 9 tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm thi hành phần tài sản, lợi ích của các bên trong bản án, quyết định của Tòa án trong vụ việc KDTM.
Ngoài việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về KDTM, Cơ quan THADS còn phải thi hành các quyết định về KDTM của Trọng tài thương mại và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Tuy nhiên, như trong Mục 4 đối tượng và phạm vi Luận văn, tác giả đã chỉ rõ phạm vi nghiên cứu của Luận văn là chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động thi hành các bản án, quyết định KDTM của TAND. Bên cạnh đó, theo điểm d Khoản 1 Điều 2 Luật THADS (được sửa đổi, bổ sung năm 2022) thì các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam khi quốc gia nước ngoài đó và Việt Nam đã thực hiện việc ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế có liên quan. Do đó, vấn đề công nhận và thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định KDTM của Tòa án nước ngoài đòi hỏi phải được quan tâm nghiên cứu và thực hiện bởi sự cần thiết và tính thời sự của nó, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, từ giai đoạn năm 2017- 2021 và 6 tháng đầu năm 2022, tại thành phố Hải Phòng chưa có vụ việc nào liên quan đến tổ chức thi hành bản án, quyết định KDTM của Tòa án nước ngoài. Chính vì thế, trong phạm vi Luận văn này, tác giả xin phép đi sâu vào nội dung nghiên cứu là thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tại Việt Nam về KDTM từ thực tiễn tại thành phố Hải Phòng, thời gian nghiên cứu giai đoạn 2017- 2021 và 06 tháng đầu năm 2022. Đặc điểm Thi hành các bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực KDTM là một hình thức cụ thể của hoạt động THADS, do các cơ quan THA có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật THA quy định. Bởi vậy, thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về KDTM mang đầy đủ những đặc điểm của THADS, tuy nhiên THA KDTM vẫn có có một số đặc trưng riêng, cụ thể: Thứ nhất, đương sự (người được THA, người phải THA) trong THA KDTM chủ yếu là các thương nhân (cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh).
Xuất phát từ các quy định của Luật thương mại, BLTTDS, đặc điểm để xác định các vụ án, việc KDTM là tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và hướng tới mục đích lợi nhuận, trong đó, các tranh chấp chủ yếu diễn ra giữa các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh và thực hiện hoạt động thương mại. Thực tế thời gian vừa qua, 10 phần lớn các tranh chấp trong KDTM thường diễn ra giữa một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh nghiệp, với mục đích của việc vay vốn nhằm hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận. Thứ hai, nội dung THA KDTM chủ yếu thi hành các nghĩa vụ liên quan đến tài sản; trong đó đa số các vụ việc có tài sản bảo đảm giữa các bên, tài sản phong phú, đa dạng (tài khoản tại ngân hàng, sản phẩm, hàng hóa, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, cổ phần, cổ phiếu.), nhiều vụ việc tài sản có giá trị lớn, đặc biệt lớn, tính chất phức tạp, ở nhiều nơi. Vì vậy, việc xử lý tài sản để THA rất khó khăn, phức tạp, thời gian thường bị kéo dài.
Thứ ba, THA KDTM vừa mang tính pháp lý, tính kinh tế, vừa có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Tính pháp lý thể hiện giống như việc thi hành mọi bản án, quyết định, THA KDTM nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc Hiến định “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 106), đồng thời việc tổ chức THA phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. THA KDTM góp phần quan trọng trong việc khôi phục quyền lợi về tài sản của các bên; giải phóng nguồn lực vật chất, tái đầu tư sản xuất kinh doanh. Về mặt xã hội, THA KDTM có thể dẫn tới sự chấm dứt hoạt động của một doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, do đó không chỉ ảnh hưởng ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Bên cạnh đó, quá trình THA cũng có thể là cầu nối, tạo điều kiện để các bên tiếp tục hợp tác, khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thứ tư, loại việc KDTM thường được các cơ quan THADS phân loại án vào diện có điều kiện THA nhưng việc THA tương đối khó khăn và phức tạp, thậm chí kéo dài qua nhiều năm. Để giải quyết phụ thuộc rất nhiều người phải THA tự nguyện trả nợ hoặc giữa doanh nghiệp và bên phải THA thoả thuận với nhau, hoặc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, định giá và bán đấu giá tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ.