Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI 1. Khái niệm, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi và các hình thức nuôi con nuôi về mặt pháp lý 1. Khái niệm nuôi con nuôi Khái niệm nuôi con nuôi được xem xét dưới góc độ xã hội và pháp lý. Khái niệm nuôi con nuôi dưới góc độ xã hội Dưới góc độ xã hội, nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội được thiết lập giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi con nuôi nhằm hình thành quan hệ cha mẹ và con trong thực tế với những mối liên hệ gia đình mới, để thỏa mãn nhu cầu tình cảm, đạo đức hoặc lợi ích nhất định của các bên [26, tr.
Dưới góc độ này, việc nuôi con nuôi nhằm tạo lập “gia đình mới” với mối quan hệ giữa cha mẹ và con, được xã hội thừa nhận và có giá trị như quan hệ ruột thịt. Là một quan hệ xã hội, nuôi con nuôi nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của của con người. Các nhu cầu, lợi ích đó thể hiện rất đa dạng, bao gồm cả nhu cầu, lợi ích vật chất và nhu cầu, lợi ích về tinh thần như nhận nuôi con nuôi để duy trì người nối dõi tông đường, thời cúng tổ tiên; đảm bảo tín ngưỡng tôn giáo của gia đình; để có thêm lao động cho gia đình, để được cấp thêm đất đai; hoặc việc nuôi con nuôi xuất phát từ sự yêu thương, cảm thông, muốn cưu mang, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Theo đó, dưới góc độ xã hội thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có thể được công nhận khi các bên thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật hoặc không cần công nhận về mặt pháp lý nhưng vẫn tồn tại dựa trên tình cảm, đạo lý làm người và dư luận xã hội.
Khái niệm nuôi con nuôi dưới góc độ pháp lý Khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi quy định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi”. Dưới góc độ pháp lý, nuôi con nuôi là một quan hệ pháp luật (gồm chủ thể, khách thể và nội dung của quan hệ pháp luật) [31, tr. Chủ thể của quan hệ nuôi con nuôi là cha mẹ nuôi (là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký) và con nuôi (là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký). Khi tham gia vào quan hệ pháp luật nào đó thì cá nhân, tổ chức phải đáp ứng yêu cầu về năng lực chủ thể (năng lực pháp luật và năng lực hành vi).
7 Theo đó, để tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi, người nhận con nuôi, người được nhận làm con nuôi phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật Nuôi con nuôi. Cụ thể, Điều 8, 14 Luật Nuôi con nuôi quy định: (i) Người nhận con nuôi phải đáp ứng đủ điều kiện sau: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi 20 tuổi trở lên (trừ trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi); có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi (trừ trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi); có tư cách đạo đức tốt; (ii) Những người sau đây không được nhận con nuôi: đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. (ii) Người được nhận làm con nuôi phải đáp ứng điều kiện sau: là trẻ em dưới 16 tuổi hoặc người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trong trường hợp được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi hoặc được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi; một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Chỉ khi hai bên đáp ứng đủ tư cách về mặt chủ thể nêu trên mới đủ điều kiện để tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi.
Khách thể của quan hệ nuôi con nuôi là lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần mà các chủ thể hướng tới khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi. Lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần rất đa dạng như đã trình bày ở phần trên. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý thì việc nuôi con nuôi nhằm xác lập mối quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình (Điều 2 Luật Nuôi con nuôi). Như vậy, mọi hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục không được thực hiện trong môi trường gia đình và không hướng tới mục đích nhằm xác lập mối quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững thì không thể coi là việc nuôi con nuôi.
Về mặt tâm lý cũng như thể chất, trẻ em chỉ có thể phát triển một cách đầy đủ khi chúng có ý tưởng về sự bền vững trong gia đình cha mẹ nuôi. Còn đối với cha mẹ nuôi, họ chỉ có thể thực hiện vai trò làm cha mẹ một cách tốt nhất khi họ được bảo đảm rằng mối quan hệ giữa mình và con nuôi là mối quan hệ lâu dài, gắn bó suốt cả cuộc đời [25, tr. 8 Nội dung của quan hệ nuôi con nuôi là những quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng trên cơ sở phát sinh quan hệ cha mẹ và con hợp pháp giữa người nhận con nuôi và người được nhận con nuôi. Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật Nuôi con nuôi.
Trong trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Tòa án thì quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật”. Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con đã được quy định rất cụ thể từ Điều 68 đến Điều 87, mục 1, chương V Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, trước khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi phát sinh thì các bên trong quan hệ nuôi con nuôi phải thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (xác lập trên cơ sở sự kiện pháp lý). Đó chính là các TTHC trong lĩnh vực nuôi con nuôi, sẽ được trình bày cụ thể tại Chương 2 của Luận văn.
Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi Về mặt xã hội, việc nuôi con nuôi có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc, thể hiện tình yêu thương, tinh thần, trách nhiệm và mối quan hệ tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người; phù hợp với đạo đức, phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc. Qua việc nuôi con nuôi, đặc biệt là việc nhận trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật, không nơi nương tựa làm con nuôi, con người thể hiện sự mong muốn hướng tới những giá trị đạo đức tốt đẹp, đó là chân – thiện – mỹ [26, tr.38], thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp, dân chủ, tiến bộ giữa người với người, góp phần thực hiện công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách của sự phân hóa giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế mạnh mẽ ở nước ta hiện nay. Đối với Nhà nước, việc nhận con nuôi làm giảm được gánh nặng về tài chính, kinh tế cho Nhà nước ta trong việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Theo thống kê của ngành Lao động, thương binh và xã hội, hiện nay cả nước có khoảng 1.5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có 22.000 trẻ em đang sống tại cơ sở trợ giúp xã hội của Nhà nước.
Trong giai đoạn 5 năm 2011-2015, trên toàn quốc đã giải quyết được 1.837 trường hợp trẻ em ở cơ sở trợ giúp xã hội (chiếm 8.35%) làm con nuôi trong nước và nước ngoài [13, tr. Qua đó, đã tiết kiệm cho ngân sách nhà nước một khoản chi phí nhất định do không phải 9 đưa các em vào cơ sở bảo trợ xã hội, mà vẫn bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em khi được sống trong gia đình thay thế. Mặt khác, đối với những trẻ em bị bỏ rơi, không nơi nương tựa, phải lang thang tự kiếm sống thì khi được nhận làm con nuôi sẽ làm hạn chế khả năng trẻ có thể có hành vi vi phạm phát luật, mắc các tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Đối với con nuôi, việc nhận con nuôi xác lập mối quan hệ cha mẹ và con lâu dài, đem lại cho đứa trẻ cuộc sống gia đình bền vững, mà ở nơi đó đứa trẻ được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng trong vòng tay của cha mẹ và người thân, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách toàn diện về nhân cách, thể chất và tinh thần, dễ dàng hòa nhập với cuộc sống cộng đồng.
Đối với những trẻ em bị khuyết tật, tàn tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì việc được nhận làm con nuôi sẽ giúp trẻ có nhiều cơ hội để chữa bệnh, phục hồi chức năng, kéo dài sự sống. Đối với người nhận nuôi, việc nuôi con nuôi góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của người nhận con nuôi, nhất là các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con; phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân, không có điều kiện sinh nở, giúp họ thực hiện quyền làm cha mẹ của mình một các thực tế và hợp pháp.