Chương 1 VÀI NÉT VỀ THƠ TÌNH YÊU DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ THƠ TÌNH DÂN TỘC GIÁY – LÒ NGÂN SỦN 1. Vài nét khái quát về thơ dân tộc thiểu số nói chung và thơ tình yêu dân tộc thiểu số nói riêng. Văn học dân tộc thiểu số thời kì hiện đại Có thể nói nếu văn học Việt Nam hiện đại nói chung được hình thành từ đầu thế kỉ XX thì bộ phận văn học DTTS Việt Nam thời kì hiện đại chủ yếu hình thành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tuy ra đời sau nhưng văn học DTTS Việt Nam hiện đại đã có bước phát triển khá nhanh chóng và đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận.
Trước đó trong đời sống văn học nước ta đã có một bộ phận văn học các DTTS Việt Nam rất phong phú và đặc sắc như các tác phẩm văn học dân gian: “Xong chụ xon xao” của dân tộc Thái, “Ẩm Ệt Luông” của dân tộc Mường, “Trường ca Đăm Săn”, “Xinh Nhã” của dân tộc Ê đê… đến “Khảm hải” của dân tộc Tày… Văn học DTTS Việt Nam nói chung, văn học DTTS hiện đại nói riêng đã một mặt kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian, mặt khác đã có những đổi mới, phát triển, hiện đại hóa với một đội ngũ sáng tác văn học đông đảo đến từ nhiều dân tộc khác nhau như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu, Nông Viết Toại, Triều Ân, Vi Hồng, Mã Thế Vinh, Hà Thị Cẩm Anh, Mã A Lềnh, Inrasara, Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Cao Duy Sơn, Mai Liễu,Bùi Thị Tuyết Mai, Linh Nga Nieekdam, Niê Thanh Mai, Dương Khâu Luông, Đồng Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan. Cùng với lực lượng sáng tác văn học ngày càng hùng hậu thì số lượng và chất lượng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 của các tác phẩm văn học DTTS Việt Nam hiện đại cũng ngày nhiều hơn và càng được nâng cao hơn. Đã có nhiều tác phẩm thơ ca DTTS đạt được Giải thưởng cao trong đời sống văn học Việt Nam nói chung, trong văn học các DTTS Việt Nam nói riêng, ví dụ như: “Ánh hồng Điện Biên” (1984) của Cầm Biêu đạt Giải A Hội VHNT Việt Nam năm 1984; tập thơ “Tiếng hát tháng giêng” của Y Phương được trao Giải hay nhất trong năm1987; 2 tập thơ “Những người con của núi” (1990) và “Tôi là ngọn gió” (1998) của nhà thơ Lò Ngân Sủn đạt Giải B Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1990, 1998); tập thơ “Giấc mơ của núi” của Mai Liễu đạt Giải B Hội VHNT các DTTS Việt Nam (năm 2001); “Tháp nắng” - Thơ và trường ca (1996) của Inrasara đạt Giải B Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1997), “Lễ tẩy trần tháng Tư” (2002) – Thơ và trường ca đạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2003) và Giải thưởng văn học Asean (năm 2005) và gần đây nhất là tác phẩm “Vũ Khúc Tày – Tủng Tày (2015) của tác giả Y Phương được nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (2015)… Sự vận động, thay da đổi thịt của cuộc sống con người và thiên nhiên miền núi qua các giai đoạn lịch sử của đất nước là nội dung phản ánh chủ yếu của các tác phẩm văn học DTTS Việt Nam hiện đại. Từ khí thế hào hùng của Cách mạng, ca ngợi cuộc sống mới đầy phấn chấn, tự hào, đến phẩm chất tốt đẹp của con người miền núi, tình yêu tự do tràn đầy năng lượng, và cả việc phê phán những thói hư, tật xấu, sự tha hóa biến chất của một bộ phận con người trong cuộc sống hiện đại…đều được các tác giả văn học DTTS phản ánh một cách rất chân thực và sinh động.
Hòa cùng vào dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại nói chung, văn học DTTS Việt Nam hiện đại cũng phát huy được vai trò, nhiệm vụ lịch sử của mình, đó là hướng vào “một nền văn học phong phú, đa dạng, đặc sắc và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”. Nền văn học phong phú, đa dạng, đăc sắc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 ấy đã khơi nguồn cảm hứng sáng tác cho đội ngũ các nhà văn DTTS trên tất cả các thể loại: thơ, văn xuôi, kịch, lí luận phê bình…,trong đó thể loại thơ ca đã có những đóng góp không nhỏ vào quá trình vận động và phát triển của văn học DTTS Việt Nam thời kì hiện đại. Thơ ca dân tộc thiểu số nói chung và thơ tình yêu DTTS nói riêng Trong các thể loại (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, lí luận phê bình, kịch bản sân khấu…) của văn học các DTTS Việt Nam thì thể loại thơ được đánh giá là phát triển mạnh mẽ nhất và cũng là thể loại mang lại nhiều thành công nhất. Với một đội ngũ đông đảo các nhà thơ gồm nhiều thế hệ liên tục phát triển, thơ ca DTTS hiện đại đã có nhiều thành tựu đáng khẳng định.
Thơ ca DTTS giai đoạn từ 1945 đến 1975 có thể nói đã có bước phát triển khá phong phú và đa dạng. Đây là giai đoạn đất nước bước vào chặng đường đấu tranh đầy gian khổ và ác liệt trước những thế lực xâm lược bạo tàn, đó là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ; đồng thời đây cũng là giai đoạn nước ta tiến hành công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam. Thơ ca DTTS giai đoạn này cũng đã phản ánh kịp thời những chuyển biến mới của lịch sử dân tộc, ca ngợi lòng yêu nước, yêu quê hương, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của người dân miền núi; phản ánh hiện thực cuộc sống khổ cực của đồng bào miền núi dưới sự áp bức bóc lột của giặc Pháp và bè lũ tay sai; thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc và tinh thần đấu tranh dũng cảm, một lòng theo Đảng, theo Bác, kháng chiến trường kì…Giai đoạn này xuất hiện một số gương mặt tác giả với các sáng tác tiêu biểu như: Cầm Biêu với các bài thơ, tập thơ: “Vợ lính ngụy mong chồng” (1949), “Gái thời giặc” (1950), “Mường muổi yên vui” (1954); Nông Quốc Chấn với “Việt Bắc đánh giặc” (1948) , “Khâu áo” (1948), “Dọn về làng” (1950), “Người núi hoa” (1958), “Tiếng ca Việt Bắc” (1959); Triều Ân với “Tung còn và suối đàn” (1963), “Tiếng hát rừng xa” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 (1974), “Nắng ngàn” (1974); Bàn Tài Đoàn có “Xuân về trên núi” (1963), “Một giác mơ” (1964), “Trùm xấy cấu - Kể chuyện đời” (1968); Nông Viết Toại với “Kin Ngay phuối khát” (1962), “Đét chang nâu” (Nắng ban trưa); Vương Anh có “Sao chóp núi” (1968), “Trăng mắc võng” (1973)… Sau đại thắng mùa xuân 1975, non sông đã liền một dải, Bắc Nam xum họp một nhà, niềm vui thắng lợi, không khí tươi vui phấn khởi tràn ngập muôn nơi, đất nước sang trang sử mới , khép lại thời kì “khổ nhục mà vĩ đại”, mở ra thời kì mới – thời kì độc lập dân tộc thống nhất nước nhà, xây dựng cuộc sống mới. Cùng với sự chuyển mình của văn học dân tộc trong giai đoạn mới, thơ ca DTTS cũng có những thành tựu vượt bậc, cả về số lượng và chất lượng.
Bên cạnh lớp nhà thơ đi trước vẫn bền bỉ sức sáng tạo như: Nông Quốc Chấn với “Dòng thác” (1977), “Bài thơ Pác Bó” (1982); Bàn Tài Đoàn với “Trên núi vẫn là nơi ta ở” (1979), “Bước đường tôi đi” (1985), “Ba con đường” (1995), “Bó đuốc sáng” (2002); Vương Anh với “Đến hẹn” (1983), “Hoa Li-pa yêu” (1989), “Rượu mặn” (1993), “Lá đắng” (1993); Vương Trung với “Sóng Nậm Rốn” (trường ca – 1998); Triều Ân với “Chốn xa xăm” (1990)…là đông đảo lớp nhà thơ trẻ với lòng nhiệt huyết sôi trào,tình yêu cuộc sống thiết tha, đem đến muôn điệu và âm hưởng đa dạng, phong phú cho cây đàn thơ ca DTTS, khiến cho thơ ca dân tộc thiểu số thời kì này có một đời sống sôi động và phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, với sự xuất hiện của các gương mặt nhà thơ tiêu biểu như: Y Phương với “Tiếng hát tháng giêng” (1986), “Lửa hồng một góc” (1987), “Đàn then” (1996); Pờ Sảo Mìn với “Cây hai nghìn lá” (1992), “Mắt lửa” (1998), “Con trai người Pa Dí” (2001); Lò Ngân Sủn với “Chiều biên giới” (1989), “Những người con của núi” (1990), “Dòng sông mây” (1995), “Người đẹp” (1999); Dương Thuấn với “Cưỡi ngựa đi săn” (1991), “Đi tìm bóng núi” (1993), “Đi ngược mặt trời” (1995); Lò Cao Nhum với “Giọt sao trở về” (1995), “Rượu núi” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 (1996), “Sàn trăng” (2000), “Theo lời hát về nguồn” (2001); Lâm Quý với “Điều có thật từ câu ca dao” (1998); Ma Trường Nguyên với “Mát xanh rừng cọ” (1983), “Tiếng lá rừng gọi đôi” (1996), “Câu hát vắt qua vai” (2005); Triệu Kim Văn với “Hoa núi” (1990), “Mùa Sa nhân” (1994), “Lá tìm nhau” (1999), “Con của núi” (2002)…Bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của các nhà thơ nữ người DTTS như: Dư Thị Hoàn với “Lối nhỏ” (1988); Nông Thị Ngọc Hòa với “Trước gương” (1998), “Lời ru cho mình” (1999), “Vườn duyên” (2002); Triệu Thị Mai với “Ngọn lửa”… Các tác phẩm thời kì này mang âm hưởng náo nức, với cảm hứng ngợi ca con người và cuộc sống miền núi mang hơi thở mới trẻ trung, sôi nổi, nhiệt huyết; nghệ thuật thể hiện có tính hiện đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Trong lĩnh vực thơ ca các DTTS Việt Nam hiện đại thì mảng thơ tình yêu được đánh giá là đặc sắc, lạ và hấp dẫn người đọc nhất. Có một số nhà thơ tình DTTS tiêu biểu với những sáng tác như: “Lời then ai buộc” (1996), “Giấc mơ của núi” (2001) của tác giả Mai Liễu; “Tiếng hát tháng giêng” (1986), “Lửa hồng một góc” (1987), “Đò trăng” (2009), “Bài hát cho Sa” (2011), “Mùa hoa” của tác giả Y Phương; “Con trai người Pa Dí” (2001),“Tiếng chim cao nguyên” (2015) của nhà thơ Pờ Sảo Mìn; “Bên suối Nậm Mơ” (1995),“Tình ca đá núi” (2015) của Mã A Lềnh; “Lời của lá” (2000),“Vườn duyên” (2002) của tác giả Nông Thị Ngọc Hòa; “Xôn xao rừng lá” (1992), “Lời riêng” (2009) của tác giả Hà Lâm Kỳ…Các nhà thơ đã có nhiều bài thơ , tập thơ viết về đề tài tình yêu (nam, nữ) rất đặc sắc, vừa mang những nét chung của thơ tình yêu nói chung, vừa có những đặc điểm riêng, sắc thái riêng, cách viết riêng rất độc đáo và thú vị của người miền núi.