Chương 1 ĐỊA VĂN HÓA TRONG VĂN HỌC VÀ NHÓM THƠ BÀN THÀNH TỨ HỮU 1. Địa văn hoá và vấn đề tiếp nhận thơ trữ tình 1. Địa văn hóa và địa văn hóa trong văn học Những năm gần đây, khái niệm địa văn hóa không mấy xa lạ đối với giới nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn. Đặc biệt, khi những bài viết mang tính hệ thống về văn hóa vùng miền được Trần Quốc Vượng công bố đồng loạt thì khái niệm này được khẳng định một cách chắc chắn với nội hàm ổn định, xác thực.
Trong thực tế, những nghiên cứu về văn hóa địa phương, vùng miền đã được thực hiện từ rất xa xưa. Thời trung đại, các di chỉ, di ngôn, di bút bàn về phong thổ, địa vật của mỗi vùng miền đã được lưu lại bằng văn bản và trở thành những áng văn ra đời sớm nhất của lịch sử văn học dân tộc. Lý Thái Tổ, trong Chiếu dời đô đã nêu lên những đặc điểm về phong vật của đất Thăng Long nhằm làm minh chứng xác thực, khẳng định mạnh mẽ cho quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Nguyễn Trãi được xem là nhà nghiên cứu địa lý lỗi lạc và đầu tiên của Việt Nam với công trình nghiên cứu Dư địa chí còn lưu danh muôn thuở… Đặc biệt, đến thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, những công trình khảo cứu về các vùng văn hóa của đất nước đã được các nhà nghiên cứu như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ… thực hiện một cách công phu, nghiêm túc đã cho thấy vai trò quan trọng của văn hóa bản địa trong sự phát triển chung của nền văn hóa dân tộc.
Tuy nhiên, ở thời trung đại, khái niệm địa văn hóa chưa được giới nghiên cứu nêu ra. Đến thời hiện đại, lý thuyết địa văn hóa, địa kinh tế được quan tâm nghiên cứu với tư cách là ngành khoa học đặc thù. Lý thuyết này coi trọng vai trò của e 11 điều kiện địa lý, khí hậu trong việc hình thành nền kinh tế - văn hóa của mỗi vùng, mỗi dân tộc. Các nhà khoa học đều xuất phát từ điều kiện địa lý, khí hậu khi nghiên cứu về sắc thái văn hóa và sự phát triển kinh tế của mỗi vùng, xứ, tỉnh, hoặc một tộc người.
Cũng đề cập đến yếu tố bản địa trong nghiên cứu văn hóa vùng miền nhưng nhóm các nhà nghiên cứu Bùi Quang Thắng, Đoàn Văn Chúc, Nguyễn Thị Thu Hà trong 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hóa gọi với một thuật ngữ có ý nghĩa phổ quát toàn thế giới là “tri thức bản địa”. “Tri thức bản địa” theo Nguyễn Thị Thu Hà “là một hệ thống tri thức các đặc trưng của các cộng đồng địa phương liên quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh” [42, tr. Tri thức bản địa có 8 đặc điểm cơ bản được các nhà nghiên cứu trên thế giới thừa nhận: tính địa phương, tính truyền miệng, hoặc được chuyển giao thông qua các hình thức mô phỏng hoặc mô tả, tính gắn kết thực tế trong đời sống hàng ngày, xu hướng thực tiễn, kinh nghiệm, tính liên tục thay đổi, được tạo ra và tái tạo, được chia sẻ ở một mức độ lớn hơn rất nhiều so với các loại tri thức khác, bao gồm cả tri thức khoa học… Như vậy, tri thức bản địa là chỉnh thể hợp nhất trong khuôn khổ của các truyền thống văn hoá rộng lớn của vùng miền. Khái niệm địa văn hóa được xác lập với những công trình nghiên cứu của Trần Quốc Vượng.
Ông là người đưa ra quan điểm rất rõ ràng về địa văn hóa. Thông qua các bài nghiên cứu về văn hóa địa phương, Trần Quốc Vượng đã dẫn giải khái niệm về địa văn hóa: “Văn hóa là một thực thể có sự vận động trong không gian và thời gian. Nhìn theo chiều thời gian, văn hóa Việt Nam là một diễn trình lịch sử có quy luật phát triển riêng của nó. Nhìn trong không gian, văn hóa Việt Nam có sự vận động qua các vùng/xứ/miền khác nhau”, “Cắt nghĩa bản sắc văn hóa Việt Nam, tôi nghĩ rằng cần vẽ được đường nét văn hóa ở các vùng miền khác nhau.
Nói khác đi tí chút là chỉ ra được sự vận động của văn hóa trong e 12 không gian” [49; tr. Cắt nghĩa như thế cũng có nghĩa địa văn hóa được ông quan niệm là không gian văn hóa của địa phương, vùng miền. Trong quá trình thực hiện công trình với những bài viết về văn hóa từng địa phương, dùng trực tiếp khái niệm địa văn hóa như “Vị thế địa văn hóa vùng đất Tổ”, “Vĩnh Phú vị thế địa - chính trị và bản sắc địa - văn hóa”, “Xứ Bắc - Kinh Bắc một cái nhìn địa văn hóa”, “Vị thế địa - văn hóa của Hà Nội nghìn xưa trong bối cảnh môi sinh lưu vực sông Hồng và cả nước Việt Nam”. cho thấy quan niệm nhất quán của ông về khái niệm này.
Cùng với khái niệm địa văn hóa, ta thường thấy các khái niệm địa chính trị, địa kinh tế, địa sử. Như Trần Quốc Vượng có nêu trong phần viết về “Vị thế địa văn hóa vùng đất Tổ”: “Nếu chỉ nói một câu về vị thế địa chính trị, địa chiến lược, địa văn hóa của kinh đô cổ đại Văn Lang thì tôi xin nói rằng: Đó là vùng ngã ba sông (Hợp lưu Thao – Lô – Đà). Như bên trên đã nói, tổ tiên ta có câu: Tụ nhân như tụ thủy.” Ông dẫn cả 3 khái niệm có từ “địa”: địa chính trị, địa chiến lược, địa văn hóa. Trần Quốc Vương cho rằng, “địa” là một tiếp đầu ngữ chỉ vùng đất, nơi chốn với những đặc điểm riêng về địa lý, hình thế sông núi, cấu tạo địa chất.
“Địa” đi cùng từ ngữ nào phía sau cũng nhằm giới hạn lĩnh vực được nghiên cứu của một nơi chốn cụ thể. Theo cách nhìn nhận của Trần Quốc Vượng và vấn đề ông bàn bạc trong công trình của mình, “địa” phải là nơi chốn, địa danh, địa phương chứ không phải chỉ là địa lý. Như vậy, địa văn hóa là văn hóa địa phương với những đặc điểm riêng biệt về địa lý nên cũng có đặc điểm riêng về văn hóa. Mỗi địa phương có điểm khác biệt về văn hóa trong mối quan hệ với tổng thể văn hóa các vùng miền và văn hóa quốc gia.
Tiếp nhận thơ trữ tình dưới góc nhìn địa văn hóa Văn hóa bao hàm nhiều thành tố, trong đó có văn học. Ta không thể hiểu văn học nếu tách nó ra ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa e 13 một thời nó tồn tại, không thể tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa. Học hay đọc văn học chính là học và đọc để ta có thể tìm hiểu được bản sắc văn hóa của một dân tộc được đúc kết trong tác phẩm đó. Có thể nói, giữa văn hóa và văn học có một mối quan hệ khăng khít với nhau, không thể tách rời.
Về nội dung, giá trị văn hóa của văn học thể hiện ở việc phản ánh các hệ thống giá trị về con người, giá trị tổ chức đời sống xã hội và cá nhân, các chuẩn mực hành vi con người. Về nghệ thuật, giá trị văn hóa thể hiện ở hình thức biểu hiện như ngôn ngữ, thẩm mĩ, loại hình, thể loại, tu từ. Khái niệm giá trị văn hóa tuy thống nhất với giá trị văn học, song xét về ngoại diên, giá trị văn hóa rộng hơn giá trị văn học. Một tác phẩm mà giá trị văn học không cao vẫn có giá trị văn hóa về mặt này mặt khác.
Chính vì vậy, tác phẩm văn học luôn có giá trị văn hóa cần thiết để người nghiên cứu phát hiện những yếu tố liên quan đến văn hóa của từng quốc gia, dân tộc. Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa là hướng nghiên cứu khá sôi nổi ở Việt Nam trong những thập niên gần đây. Xét từ tính hiệu quả, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nếu tiếp cận tác phẩm văn học mà chỉ dừng lại ở các cấp độ hình ảnh, hình tượng, thi pháp. thì vẫn chưa hiện lên hết vẻ đẹp toàn diện của tác phẩm đó.
Ta cần phải lý giải tên gọi của nó, đặt nó vào hoàn cảnh ra đời, vào thời điểm lịch sử và cả những biến động xã hội xung quanh mới thấy được hết những thành công độc đáo, thấy được vị trí của nó trong tiến trình phát triển của văn học. Do vậy, nghiên cứu một tác phẩm văn học trong quan hệ với văn hóa sẽ giúp ta thấy được vai trò sáng tạo văn hóa, thấy được cấu trúc, chức năng văn hóa của văn học. Tiếp nhận văn học nói chung hay tiếp nhận thơ trữ tình nói riêng dưới góc nhìn địa văn hóa sẽ giúp người đọc nhận ra được giá trị muôn thuở của văn hóa đất nước được thấm nhuần qua từng con chữ, hình tượng, quan niệm thẩm mỹ, quan niệm văn học. Bởi mỗi tác giả, chủ thể sáng e 14 tạo đều được sinh ra, “tắm gội” trong một môi trường văn hóa nhất định.
Đối với một số tác giả có điều kiện sinh ra, làm việc, trưởng thành ở nhiều vùng miền khác nhau thì sự đan xen văn hóa trong sáng tạo của họ là điều tất yếu. Sự đan xen văn hóa đó làm nên giá trị của tác phẩm văn học và làm nên sự khác biệt trong sáng tác của họ. Yếu tố địa văn hóa trong thơ trữ tình là hình thế núi sông, di chỉ kiến trúc, danh lam thắng tích, quan hệ đối xử giữa người với người trong vùng miền, phương ngôn… được đúc kết qua hình tượng thơ, ngôn ngữ, các biện pháp tu từ, thể loại, thi pháp… Khi tiếp nhận tác phẩm văn học, người đọc sẽ khám phá tất cả những giá trị này thông qua việc phân tích, lí giải, cắt nghĩa tác phẩm trong mối quan hệ với môi trường sinh thành tác phẩm và nguồn gốc tác giả… Trong thơ trữ tình, dấu ấn địa văn hóa là vô cùng đậm nét. Các nhà thơ sẽ bị chi phối ảnh hưởng sâu sắc từ những quan niệm thẩm mỹ chung của cộng đồng.
Từ đó các nhà thơ vừa thể hiện được những sáng tạo của cá nhân nhưng cũng thể hiện nhiều nét tương đồng với những sáng tác truyền thống. Đây chính là cơ sở để người đọc nhận thấy được những ảnh hưởng chung của lịch sử, thời đại, dấu ấn bản sắc riêng của cộng đồng, dân tộc. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, văn học và địa văn hóa rất sâu sắc và bền vững. Văn học vừa kết tinh, vừa biểu hiện tâm thức của văn hóa dân tộc, địa phương.