CHƯƠNG 1 TÒNG QUAN ĐƠN VỊ VẬN ĐỘNG 1.1 Cấu tạo một đon vị vận động Đơn vị vận động gồm có 3 thành phần chính: Nơron vận động, sợi cơ và synap thần kinh - cơ 1.1 Noron vận động Nơron vận động thuộc về hệ thần kinh Nhưng trên quan điêm chức năng của nơron vận động thi đây là một trong những bộ phận quan trọng của bộ máy vận động. Vị trí cùa Nơron vận động nằm ờ sừng trước tuỳ sống. Đặc điêm cấu tạo nơron vận động giong nơron khác nhưng điêm kliác biết giữa nơron vận động với các nơron kliác là sợi trục của nơron vận động ờ người rất dài, có sợi dài den l,2m. Song cũng có những sợi trục ngan.
Nơron vận động được chia thành hai loại là nơron vận động alpha và nơron vận động gamma. Nơron vận động alpha điều khiển hoạt động của sợi cơ, còn nơron vận động gamma chi phối chính sợi 11110 cùa suốt thần kinli - cơ điều hoà trương lực. Chính vi vậy, nơron vận động alpha mới là thành phần của bộ máy vận động. Mỗi nơron vận động có thê điều kliiên một hoặc nhiều sợi cơ [1] Nhân Hìnli 1.
Câu tạo đơn vị vận động SVTH: Nguyễn Thiện Luận GVHD: ThS Đỗ Khoa Bình 4 1.2 Sợi cơ Sợi cơ là cấu tạo cơ bản của bap cơ. Mỗi sợi cơ có độ dài trung bình hr 0,1- 3cni (sợi cơ may dài 12cm) và độ dày trong khoảng tìĩ 0,0 Imm - 0,2mm. Bên ngoài sợi cơ được bao bọc bời màng sợi cơ và bên trong sợi cơ chứa cơ tương. Trong cơ tương bao gồm: nliân, ty lạp thể, ribôxom, đặc biệt nhất tơ cơ và lưới cơ tương là thành phan rất là quan trọng liên quan đến hoạt động co của sợi cơ.
Chiều dài của tơ cơ gần bang với chiều dài sợi cơ. Xen kẽ giữa các tơ cơ là các ty lạp thê và các hệ thống ổng ngang, ống dọc của hrới cơ tương. Đường kính của sợi cơ trong khoảng 1 - 2 micro, có tìr 200 - 400 tơ cơ. ơ những ngtĩời không rèn luyện, tơ cơ nam phân tán hơn, còn ờ nliững cơ tập luyện chúng nam thành bó [1] Dải I Dãi A Dài I H— Khúc ô cơ — r——.
Cấu tạo sợi cơ Tơ cơ là tập hợp cùa bó nhỏ các sợi xơ nam song song với nhau. Đó là xơ actin và xơ miozin, ngoài ra trong xơ actin có chứa hai loại protein là tropomiozin SVTH: Nguyễn Thiện Luận GVHD: ThS Đỗ Khoa Bình 5 và trôponin. Sự sắp xếp của xơactin, rniozin tạo thành các khúc ô cơ (đơn vị co cơ), cơ chế phân tìr cũa co cơ là sợi actin trượt trên sợi miozin làm chiều dài của các khúc ô cơ ngắn lại (xem cấu tạo sợi cơ và cơ che phân từ co cơ ờ phần giải phẫu - sinh lý hệ cơ). Có 3 loại sợi cơ: sợi cơ chậm nhóm I và sợi cơ nhanh nlióm II.
Trong sợi cơ nhanh nhóm II lại chia thành 2 nhóm nhò Il-a và Il-b. Các sợi cơ nhanh dày hơn có chứa nhiều tơ cơ hơn các sợi cơ chậm. Sợi cơ nhanh thường tham gia cấu tạo nên các đơn vị vận động rất lớn nên sợi cơ nhanh co mạnh hơn sợi chậm, tạo ra lực co lớn. Sợi cơ nhanh có tốc lớn hơn sợi chậm.
Tốc độ co cơ phụ thuộc vào hoạt tính men phân huỷ ATP (miozin - ATP - ase ). Hoạt tính của ATP càng lớn thì sự hình thànli và phá huỷ các cầu nối ngang xảy ra càng nhanh, vì vậy cơ co càng nhanh. Khả năng co bóp lâu dài, chứng tỏ được là sức bền cũng kliác nhau ỡ các loại sợi cơ. Sợi cơ chậm có khã năng co bóp rất lâu, hay nói cách kliác có sức bền cao.
Sức ben cao ờ sợi cơ chậm là do: - Có mạng lưới mao mạch dày, vì vậy máu đen nhiều và được cung cấp nhiều oxy. - Hàm lượng mioglobin cao nên sự vận chuyên oxy đến ty lạp thê cùa sợi cơ chậm diễn ra dề dàng. - Khà năng dự trữ cơ chất mang năng lượng và các men oxy hoá với hoạt tínli cao. Các đặc diêm trên làm cho sợi cơ chậm có khà năng thực hiện hoạt động ưa khí lâu dài, tức là sire bền ưa khí cao, cơ co lâu với một lực không lớn.
Vì vậy sợi cơ chậm còn gọi là sợi oxy hoá chậm. Sợi cơ nhanh có ít mao mạch, ty lạp thê, mioglobin và chất dinh dưỡng nhóm mỡ hơn. Hoạt tính các men oxy hoá thấp hơn sợi cơ chậm. Nhưng ngược lại, sợi cơ nhanh có hoạt tính men gluco phân cao hơn và chứa nhiều glycogen hơn sợi cơ chậm.
Vi lý do đó, sợi cơ nhanh có khả năng cung cấp năng lượng bang con đường yếm khí và tạo thành acidlactic. Các sợi cơ nhanh co nhanh và mạnh với thời gian tương đối ngắn, nhirng sức bền kliông được lâu, đều đó nói lên rằng sợi cơ nhanh quyết định khà năng hoạt động trong các bài tập có công suất lơn như chạy, nhảy, ném đây [1] Sợi cơ nhanh được chia làm hai nhóm nhò: Il-a và Il-b. Sợi Il-a có kliả năng oxy hoá cao hơn sợi n-b, mặc dù vẫn thấp hơn so với các sợi loại I. Chúng có đặt diêm SVTH: Nguyễn Thiện Luận GVHD: ThS Đỗ Khoa Bình 6 vừa sân xuất năng lượng bằng con đường ưa khí, vừa yếm khí tạo acid lactic .Nên sợi cơ nhanh n-a có tên gọi khác là sợi oxy hoá - gluco phân.
Còn sợi n-b có hoạt tính men gluco phân cao, được gọi là sợi gluco phân.3 Synap thần kinh - cơ Synap thần kinh - cơ là nơi tiếp giáp giữa tận cùng của sợi trục với sợi cơ. Synap thần kinh cơ cấu tạo giống synap than kinh - thần kinh (xem cấu tạo synap thần kinh ờ sách giãi phẫu) nhimg khác ờ chỗ, màng sau synap là màng sợi cơ.2 Các bệnh liên quan đen hệ vận động 1.1 Hội chứng Tourette Đây là hội chứng rối loạn than kinh có biêu hiện đặc trưng là những hành động lặp đi lặp lại không có chù đích. Triệu chứng rối loạn vận động đầu tiên thường là tật giật cơ, thê hiện qua tật giật đầu, nháy mắt hoặc nhăn nhó ờ mặt liên tục. Sau đó, các triệu chứng có thê tiến triên đến các cữ động giật ngày càng phức tạp hơn.
Những cử động này có thê là co giật dây thanh quản gây những âm thanh không mong muốn bao gồm tiếng lâm bâm, hắng giọng, la hét hoặc quát tháo mà không có tính chủ đích [2].2 Liệt cứng Liệt cứng xây ra khi có sự gia tăng việc co cơ, làm cho cơ bắp cùa bạn trờ nên cứng dơ. Điều này làm cản trờ sự vận động tay chân, gây hiện tượng khó cứ động các cơ. Liệt cứng là do tôn thirơng não hoặc tùy sống điều khiển việc cữ động dẫn đến rối loạn vận động. Nguyên nhân tôn thương có thê do thiếu oxy lên não, các chấn thương đầu nghiêm trọng và các bệnh chuyên hóa như bệnh Lou Gehrig [3].3 Loạn trương lực cơ Đây là một rối loạn thần kinh đặc trưng nguyên nhân gây ra là do các cử động co that cơ bắp, các chuyên động lặp đi lặp lại làm cho cơ thê luôn ờ tư thế và SVTH: Nguyễn Thiện Luận GVHD: ThS Đỗ Khoa Bình 7 vị trí bất thường.
Loạn trương lực cơ được gây ra bời sự tôn thương các hạch nền. Đây là hậu quả cùa bất thường chức năng hạch nền, là phần nam sâu trong não giúp kiêm soát sự phối hợp vận động. Biêu hiện rõ ràng có thê nhận biết của bệnh loạn trương lực cơ có thê bị rối loạn vận động xoắn vặn không lciêm soát được, những vận động tái diễn hoặc có những tư thế và vị trí bất thường. Xảy ra ờ bất cứ bộ phận nào trên cơ thê: chân, tay ,thân mình, mi mắt và dây thanh âm đây là nơi có thê dề dàng nliận thấy nliất.
Nguyên nhân có thê gây loạn trương lực cơ là do đột biến gen, rối loạn hoặc do tác dụng phụ cùa một số loại thuốc gây ra trong đó có bao gom có thuốc an thần [4].4 Bệnh liệt tứ chi Liệt tứ chi là tình trạng bệnh đtrợc gây bời nhiều nguyên nhàn, chủ yếu là tôn thương tùy sống và một số bệnh khác có thê gây ra liệt hr chi như Thoái hóa đốt sống cô, lưng chèn yếu làm liệt tứ chi; sốt bại hệt ờ trẻ em gây ra liệt yếu tứ chi, bại não và đột qụy, liệt cứng tứ chi, liệt tứ chi cột sống cũng có thê gây ra bệnh này. Ngoài ra, tai nạn xe hơi, tai nạn lao động cũng là những nguyên nhân có thê gây ra liệt tứ chi. Khi tùy sống bị tôn thương, sẽ mất khà năng câm giác và vận động. Từ việc khảo sát các bệnli lý liên quan đến hệ vận động, cho thay rang, hệ vận động, cụ thê là hai tay và hai chân, cột sống cô, cột sống lưng là hết sức quan trọng đối với con người trong sinh hoạt, giao tiếp, trong lao động sản xuất.
Các bệnh liên quan đến hệ vận động đem đến cho ngươi bệnh sự bất lực về mặt tinh than và thê xác. Các bệnh này khiến họ hr ti và kliông muốn hòa nhập với cuộc sống. Sự khiếm kliuyết cùa hệ vận động (một trong số bộ phận nêu trên) dần đến làm giảm chất lượng cuộc sống cùa người bệnh, đồng thời ảnh hường đến người thân, kinli tế gia đình. Trong y học hiện nay, việc điều trị các bệnh về hệ vận động như thế nào, cụ thê là bệnh liệt hr chi? Đặc biệt là việc ứng dụng thiết bị máy móc trong điều trị bệnh liệt hr chi đang ờ mức độ nào? Đã có những thiết bị chuyên nghiệp đê hỗ trợ điều trị hay chtra? Trong nghiên này, em muốn tìm hiêu cụ thê về Bệnh liệt tứ chi và phương pháp điều trị đê làm cơ sờ nghiên cứu về y khoa cho việc thiết ke chế tạo thiết bị hỗ trợ trong điều trị bệnh liệt hr chi.
Do vậy, em sẽ đi phân tích sâu hơn Bệnh liệt tứ chi và phương pháp điều trị ờ chương 2. SVTH: Nguyễn Thiện Luận GVHD: ThS Đỗ Khoa Bình 8 CHƯƠNG 2. TÔNG QUAN VẺ LIỆT TỨ CHI 2.1 Khái niệm về liệt tứ chi Theo Báo Sức khỏe và Đới sống, Xuất bản vào 26 February 2018: Liệt tứ chi là một tình trạng đặc trưng bời sự yếu kém tất cả các chi (hai tay và hai chân). Nó cũng được gọi là tetraparesis.
Sự yếu kém có thê tạm thời hoặc vĩnh viễn. Trong liệt tứ chi, một người đã hoàn toàn mất khã năng di chuyên chân, tay của họ.