Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài Chương 2: Thiết kế sách điện tử (E-book) chương “Dao động cơ”, chương “Sóng cơ và sóng âm” (chương trình Vật lí 12 trung học phổ thông) Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về phƣơng pháp dạy học Vật lí Vấn đề phương pháp dạy học (PPDH) Vật lí là một môn khoa học được thể hiện ở chỗ nó giúp làm sáng tỏ các quy luật của quá trình dạy học Vật lí. Các thành tố cơ bản của quá trình này là: mục đích của việc dạy học Vật lí, nội dung, các phương pháp, các hình thức và phương tiện dạy học, hoạt động của thầy và của trò.
Chức năng của phương pháp dạy học Vật lí là đi tìm con đường tối ưu giúp cho học sinh phổ thông nắm được các sự kiện, định luật, thuyết cơ bản về Vật lí và ngôn ngữ Vật lí, giúp học sinh được giáo dục và phát triển nhằm góp phần tốt nhất vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung của nhà trường phổ thông 1. Đối tượng của phương pháp dạy học Vật lí Phương pháp dạy học Vật lí nghiên cứu quá trình dạy học môn Vật lí trong trường phổ thông nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo. Dựa vào những kết luận, nguyên tắc, quy luật của lí luận dạy học đại cương – một bộ phận quan trọng của khoa học giáo dục – phương pháp dạy học Vật lí nghiên cứu và giải quyết những nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học bộ môn ở trường phổ thông: đó là các nhiệm vụ trí dục (giáo dưỡng), phát triển và giáo dục. Nhiệm vụ của phương pháp dạy học Vật lí Phương pháp dạy học Vật lí giải đáp ba câu hỏi lớn sau: - Dạy và học Vật lí để làm gì? (mục đích và nhiệm vụ của môn Vật lí) - Dạy và học cái gì? (nội dung môn học) - Dạy và học như thế nào? (phương pháp, tổ chức của việc dạy và của việc học) 1.
Tính đặc thù của phương pháp dạy học Vật lí – Phương pháp nhận thức Vật lí Trong trường phổ thông hiện nay những phương pháp nhận thức Vật lí phổ biến hay dùng là phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình, phương pháp 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tương tự, phương pháp thí nghiệm lí tưởng. Trong khi áp dụng các phương pháp nhận thức Vật lí ta thường phải phối hợp sử dụng các phương pháp suy luận logic như phân tích, tổng hợp quy nạp, diễn dịch. phương pháp suy luận logic này ứng dụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình nhận thức nên cần rèn luyện cho HS thường xuyên 1. Xu hƣớng đổi mới PPDH Vật lí Giáo dục của thế kỉ 21 đang đứng trước sự phát triển như vũ bão của các tiến bộ khoa học kĩ thuật trên thế giới, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của CNTT.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu đưa nước ta tiến lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chính là nguồn lực con người. Trước yêu cầu mới của xã hội, con người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy tri thức ra từ trí nhớ ở dạng có sẵn, đã được học ở trường mà còn phải biết tự mình chiếm lĩnh, sử dụng linh hoạt các tri thức đã học vào từng trường hợp cụ thể một cách sáng tạo, mang lại hiệu quả công việc cao nhất. Chính vì thế mà một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay, đổi mới và thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử… ” Như vậy mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học là giúp cho học sinh tích cực chủ động sáng tạo trong học tập, xóa bỏ thói quen học tập thụ động. Từ những nhận định trên có thể thấy rằng việc đổi mới PPDH cần phải đặt trong một hệ thống chứ không thể coi PPDH là một thành tố độc lập. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xác định, phân tích nhu cầu người học Xác định mục đích, mục tiêu Thiết kế cấu trúc Nội dung Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học PP dạy PP học KTĐG thường xuyên Xác định hình thức, PP kiểm tra đánh giá Đánh giá cải tiến, phát triển chuyên môn Hình 1.1: Tóm tắt quy trình lập kế hoạch dạy học 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Xác định nhu cầu, phong cách học môn Vật lí của học sinh Môn học vật lí được triển khai bắt đầu từ việc tìm hiểu và nhận diện được nhu cầu và phong cách học tập của học sinh.
Các thông tin đầy đủ về nhu cầu, kỳ vọng và phong cách học tập của học sinh sẽ giúp giáo viên phác họa được kế hoạch tổ chức triển khai và quản lí hiệu quả việc dạy học, thúc đẩy các quá trình tìm kiếm cơ hội hỗ trợ cho học sinh trong suốt quá trình dạy học. Các phương pháp tìm hiểu học sinh Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp để thu thập thông tin về học sinh. Các phương pháp cần đảm bảo tính tích hợp, đa chiều, mở và đơn giản (bằng các con đường tự nhiên nhất) 1. Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lí Xây dựng hệ thống mục tiêu dạy học môn Vật lí được coi là khâu trọng tâm cho việc lập kế hoạch dạy học và kiểm tra đánh giá sau này.
Mục tiêu dạy học được xây dựng nhằm thực hiện 2 chức năng chính: - Định hướng trong dạy và học. - Căn cứ để kiểm tra đánh giá kết quả tiến bộ của học sinh. Dựa trên mục tiêu yêu cầu của phân phối chương trình, giáo viên cần cụ thể hóa các mục tiêu đáp ứng các chỉ số về các tiêu chí hành vi (làm được gì?), tiêu chí thực hiện (làm được bao nhiêu là đủ) và tiêu chí điều kiện (làm được trong điều kiện nào?). Tham khảo tiêu chí SMART trong xây dựng mục tiêu: S (specific): cụ thể, chi tiết, rõ ràng, dễ hiểu M (measuable): quan sát được, đo đếm được A (achiveable): khả thi, vừa sức R (realistic): thực tế T (time-scale): có giới hạn về thời gian Gợi ý xây dựng mục tiêu dạy học môn Vật lí - Xác định mục tiêu chuẩn (trung bình) cần phải đạt - Bắt đầu bằng tuyên bố: “sau bài học này (phần này, chương này.) người học sẽ/có thể/phải:…………….” - Sử dụng các động từ chỉ hành vi, có thể quan sát, lượng hóa được 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sử dụng 6 thang bậc tư duy nhận thức của B.Bloom để phân cấp mức mục tiêu: - Gộp nhóm các mục tiêu cùng cấp - Hệ thống hóa các mục tiêu theo ma trận Nội dung Mục tiêu Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Nội dung 1 Nội dung 2 Nội dung 3 Nội dung N - Chia sẻ ý kiến đồng nghiệp 1.
Xác định yêu cầu về nội dung bài dạy học môn Vật lí 1. Quá trình “cấu trúc hóa” lại nội dung cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể Nội dung chương trình (ND1) và nội dung dạy học cụ thể trên lớp (ND2). ND1: là toàn bộ nội dung kiến thức được thiết kế mang tính tổng thể, chung cho một cấp học, chương trình học, được được trình bày theo một trật tự logic khoa học, được qui định và thể chế hóa (chương trình sách giáo khoa) ND2: là những nội dung dạy học theo chương trình nhưng đã được cấu trúc lại nhưng vẫn đảm bảo tính hệ thống, logic khoa học, được trình bày trong các hình thức dạy học khác nhau mang dấu ấn cá nhân của giáo viên (trong từng trường hợp dạy học cụ thể) Như vậy, để đảm bảo thực hiện đúng, đủ các yêu cầu về nội dung dạy học của chương trình đề ra, đảm bảo mục tiêu dạy học đồng thời dung hòa được những áp lực về thời gian, không gian, đối tượng…bất kỳ giáo viên nào cũng cần phải thực hiện quá trình “cấu trúc hóa” lại nội dung cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể. Việc cấu trúc lại nội dung chương trình dạy học giúp cho giáo viên: - Tăng khả năng áp dụng đa dạng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học (trong và ngoài giờ lên lớp) - Phân bổ thời gian triển khai một cách hợp lý (có thể coi là một trong những giải pháp “giảm tải” hiện nay) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tăng cơ hội dạy học phân hóa (cho toàn lớp/ nhóm/cá nhân) - Tăng cơ hội học tập tích cực cho học sinh - Kích thích tính chủ động của học sinh - Thiết kế đa dạng các bài tập thực hành, tình huống có vấn đề, bài tập nghiên cứu… Ví dụ: ND1 = N1 + N2 +……+ N10 Trong đó: N1 …… N10 là các nội dung theo yêu cầu của chương trình N1, N3, N7 là những nội dung cốt lõi (ND2CL) N2, N5, N4, N9 là những nội dung cơ bản (ND2CB) N6, N8, N10 là những nội dung bổ trợ (ND2BT) Như vậy chẳng hạn đối với ND2CL (gồm N1, N3, N7) giáo viên có thể sẽ sử dụng nhiều thời gian hơn để giảng bài trên lớp, cho học sinh làm bài luyện tập, tăng cường hơn các phương pháp tích cực… nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chắc chắn.
Nhưng đối với các nội dung bổ trợ ND2BT (gồm N6, N8, N10), giáo viên có thể không dạy trực tiếp trên lớp mà tích hợp vào các bài tập nghiên cứu, tình huống… để giao cho học sinh về nhà làm (có hướng dẫn và tiêu chí kiểm tra đánh giá). Lí luận về bài tập Vật lí Khi giáo viên thực hiện quá trình “cấu trúc hóa” lại nội dung cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể thì công việc quan trọng, tốn nhều công sức và thời gian là lựa chọn thiết kế hệ thống BTVL. Thông thường, trong sách giáo khoa và tài liệu lí luận dạy học bộ môn Vật lí, người ta hiểu những bài tập Vật lí là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng Vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy Vật lí của học sinh và rèn luyện kĩ năng vận dụng các kiến thức của họ vào thực tiễn.