Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề thiết kế và sử dụng PHT trong DHHH nhằm phát triển NLGQVĐ&ST cho HS Chương 2. Thiết kế và sử dụng PHT nhằm phát triển NLGQVĐ&ST cho HS trong DH phần dẫn xuất chứa oxi của hiđrocacbon hoá học 11. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu - Trịnh Thị Minh Tâm (2009), Sử dụng PHT trong dạy học môn Hoá học lớp 10 trung học phổ thông”, Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm TP. Khoá luận đã đưa ra hướng nghiên cứu đề tài logic: đi từ cơ sở lí luận PTDH để làm nền tảng nghiên cứu về PHT; nêu được cơ sở lí luận về PTDH: khái niệm, phân loại, vai trò và yêu cầu đối với PTDH; nêu được sơ lược khái niệm, phân loại, vai trò của PHT; đặc biệt những nguyên tắc về sử dụng PHT nhằm phát huy khả năng tư duy, tính tích cực, chủ động, ST của HS trong quá trình tìm tòi, lĩnh hội tri thức. Nhược điểm của khoá luận là mới dừng ở việc nghiên cứu cách sử dụng PHT nhưng chưa quan tâm đến việc thiết kế PHT; đã xác định được một số khó khăn khi sử dụng nhưng chưa đề xuất được các biện pháp khắc phục, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng PHT.
- Nguyễn Thị Phượng (2013), Thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học hoá học lớp 10 THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP. Luận văn đã phát triển những kết quả từ luận văn của Trịnh Thị Minh Tâm, nêu được yêu cầu và nguyên tắc sử dụng đối với PTDH, xác định được những sai sót điển hình trong việc sử dụng PTDH và nêu được một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng PHT. Nhược điểm của luận văn là mới dừng ở việc nghiên cứu cách thiết kế và sử dụng PHT nhưng chưa thực sự quan tâm đến mục đích phát triển NL người học. Tác giả cũng đã xác định được một số thuận lợi, khó khăn khi thiết kế PHT nhưng chưa đề xuất được các biện pháp khắc phục khó khăn, góp phần nâng cao hiệu quả thiết kế PHT.
7 - Nguyễn Thị Ngọc Nga (2016), Phát triển NLGQVĐ&ST thông qua hệ thống bài tập hoá học chương Oxi - lưu huỳnh, lớp 10 THPT, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TP. Những khoá luận và luận văn trên đã có những đóng góp riêng của mình, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về thiết kế và sử dụng PHT trong DHHH lớp 11 THPT nhằm phát triển NLGQVĐ&ST cho HS. Định hướng đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực 1. Những định hướng đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông Theo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017), chương trình giáo dục phổ thông thực hiện mục tiêu giáo dục, hình thành, phát triển phẩm chất và NL cho HS thông qua các nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học, giáo dục toán học, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học tự nhiên, giáo dục công nghệ, giáo dục tin học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục nghệ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp.
Mỗi nội dung giáo dục đều được thực hiện ở tất cả các môn học và hoạt động giáo dục, trong đó có một số môn học và hoạt động giáo dục đảm nhiệm vai trò cốt lõi. Căn cứ mục tiêu giáo dục và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, NL ở từng giai đoạn giáo dục và từng cấp học, chương trình mỗi môn học và hoạt động giáo dục xác định mục tiêu, các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, NL và nội dung giáo dục của môn học, hoạt động giáo dục đó. Giai đoạn giáo dục cơ bản thực hiện phương châm giáo dục toàn diện và tích hợp, bảo đảm trang bị cho HS tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS; giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp thực hiện phương châm giáo dục phân hoá, bảo đảm HS được tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Cả hai giai đoạn giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp đều có các môn học tự chọn; giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp có thêm các môn học và chuyên đề học tập được lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, nhằm đáp ứng nguyện vọng, phát triển tiềm năng, sở trường của mỗi HS.
Đổi mới PPDH ở trường THPT theo hướng phát triển NL (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017). 8 Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng các PP tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó GV đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho HS, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có VĐ để khuyến khích HS tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện NL, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được để phát triển. Các hoạt động học tập của HS bao gồm hoạt động khám phá VĐ, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những VĐ có thực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của PTDH tối thiểu, đồ dùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự động hoá của kỹ thuật số. Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lí thuyết; thực hiện bài tập, ThN, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng.
Tùy theo mục tiêu cụ thể và tính chất của hoạt động, HS được tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp. Tuy nhiên, dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi HS đều phải được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế. Dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực 1. Khái niệm của dạy học theo định hướng phát triển năng lực DH theo định hướng phát triển NL HS là chú trọng tổ chức cho HS hoạt động học.
Trong DH định hướng phát triển NL HS, HS là chủ thể nhận thức, GV có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của HS theo một tiến trình sư phạm hợp lí sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức. Bản chất và đặc điểm của dạy học theo định hướng phát triển năng lực * Bản chất - Tạo hứng thú nhận thức thông qua việc tổ chức cho HS bộc lộ những hiểu biết ban đầu,. về cái mới sẽ được học trong bài. 9 - Tổ chức cho HS tìm hiểu/nghiên cứu về cái mới/kiến thức mới thông qua việc sử dụng các kĩ thuật dạy học (KTDH) tích cực để HS nghiên cứu tài liệu khoa học; nghiên cứu TN; tiến hành ThN.
- Yêu cầu HS vận dụng/ứng dụng cái mới học được vào giải quyết các tình huống/VĐ trong thực tiễn. * Đặc điểm - DH là tổ chức các hoạt động học tập của HS. - DH chú trọng rèn luyện PP tự học. - DH tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
- DH có sự kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo - GQVĐ: Hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức, huy động tất cả các NL trí tuệ của cá nhân. Để GQVĐ, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lí luận, khái niệm hoá, ngôn ngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở NL bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế (Nguyễn Cảnh Toàn, 2012).
- NLGQVĐ là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết các tình huống có VĐ khi mà giải pháp chưa rõ ràng, bao gồm sự sẵn sàng tham gia giải quyết tình huống có VĐ đó (PISA, 2012). - Sáng tạo: Quá trình hoạt động của con người tạo ra cái mới có giá trị GQVĐ đặt ra một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu xác định của con người. - NL sáng tạo là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó để GQVĐ hiệu quả. Như vậy, NLGQVĐ và NL ST có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và đều hướng tới việc GQVĐ một cách có hiệu quả.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn, “Người có óc ST là người có kinh nghiệm về phát hiện và GQVĐ đã đặt ra”. Hay theo nhà sư phạm G. Polya cho rằng: “Có thể gọi là tư duy có hiệu quả nếu dẫn đến GQVĐ cụ thể nào đó. Có thể coi là ST nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện để GQVĐ”.
NLGQVĐ tạo điều kiện cho NL ST phát triển và NL ST giúp giải quyết các VĐ thực tiễn cuộc sống một cách mới mẻ, linh hoạt và toàn diện hơn. 10 NLGQVĐ&ST của HS là khả năng HS biết phân tích, đề xuất các biện pháp GQVĐ và lựa chọn được giải pháp không những phù hợp nhất và còn mới lạ để GQVĐ đó, đồng thời đánh giá giải pháp GQVĐ; suy ngẫm về cách thức và tiến trình GQVĐ dưới những góc nhìn khác nhau để điều chỉnh và vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh, nhiệm vụ mới. Từ đó thực hiện thành công nhiệm vụ học tập và giải quyết hiệu quả các VĐ đặt ra cho chính các em trong cuộc sống (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017). Theo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017), cấu trúc NLGQVĐ&ST gồm 5 NL thành phần, mỗi NL thành phần ở cấp trung học phổ thông bao gồm một số biểu hiện, thể hiện qua bảng 1.
Biểu hiện của NLGQVĐ&ST Năng lực Biểu hiện Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các Nhận ra ý nguồn thông tin khác nhau; phân tích các nguồn thông tin độc tưởng mới lập để thấy được khuynh hướng và độ tin cậy của ý tưởng mới. Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; phát Phát hiện và hiện và nêu được tình huống có VĐ trong học tập, trong cuộc làm rõ VĐ sống.