Mở đầu. Vòng tránh thai (VTT) được dùng phổ biến từ năm 1965. Lủng tử cung do VTT là biến chứng trầm trọng và hiếm gặp với tần suất từ 1/350 đến 1/2500 lần đặt. Lủng tử cung có thể gây ra tổn thương các cơ quan kế cận như bọng đái và đặc biệt tổn thương ruột đưa đến nhiếu biến chứng trầm trọng cần phải điều trị tích cực (phẫu thuật).
Lủng tử cung có thể gặp ngau lúc đặt hoặc nhiều năm sau. Lủng tử cung lúc đặt liên hệ đến kỹ năng của người đặt.Lủng trễ về sau thường 13 Tieu luan do phản ứng viêm mãn tính với chất đồng củaVTT. Chúng tôi tường trình môt ca VRT cấp ở một phụ nữ 50 tuổi đã đặt vòng tránh thai 18 năm về trước. Hình minh họa.
Lủng tử cung do vòng tránh thai Tường trình ca bệnh. Bệnh nhân nữ 50 tuổi, PARA 3003, nhập viện vì đau nhiều vùng bụng dưới kèm theo sốt và nôn ói. đặt vòng đã 18 năm nhưng không được theo dõi đều đặn. Khám lâm sàng: Tiếng ruột giảm, có phản ứng đau dội khắp vùng hố châu phải.
Xét nghiệm có bạch cầu tăng, chụp X quang thấy VTT ở mào hông phải ( hình minh họa). Mở bụng vùng McBurney nhìn thấy VTT trong xoang bụng đằng sau chổ nối van hồi manh tràng và đầu VTT đâm vào đầu ruột thừa, toàn vùng bị phù nề và che phủ bởi mạc nối. Không thấy sỏi phân trong ruột thừa. Lấy VTT và cắt ruột thừa.
Bệnh nhân hồi phục tốt sau phẫu thuật. Nói chung VTT là phương tiện an tòan để giúp ngừa thai lâu dài. Các biến chứng liên quan VTT gồm chảy máu, nhiễm trùng, thai ngòai tử cung và lủng tử cung. Lủng tử cung thường hiếm gặp.
Lủng tử cung có lẽ do kỹ thuật lúc đặt hoặc do phản ứng viêm lâu ngày làm xoi mòn dần thành tử cung. Tần suất lủng tùy thuộc nhiều yếu tố như thời điểm đặt, số con, tiền sự phá thai, loại VTT, kinh nghiệm của người đặt và vị trí đặt trong tử cung. Phần lớn tai biến lủng tử cung xảy ra ngay lúc đặt vòng. Nếu xảy ra trễ nghĩ nhiều đến nguyên nhân do di chuyển thứ phát.
Thời điểm đặt VTT rất linh động, nhiều nghiên cứu trước đây thấy rằng đặt VTT 0-3 tháng sau sinh có nguy cơ lủng tử cung cao hơn vào thời điểm 3-6 tháng sau sinh. 14 Tieu luan Trong ca này, cơ chế gây lủng là do sự xoi mòn dần dần của thành TC vì đã đặt 18 năm trước. Không thấy sỏi phân trong ruột thừa như vậy có thể VRT do phản ứng viêm mãn tính với chất đồng của VTT. Các phụ nữ đặt VTT phải được cảnh báo VTT có thể di chuyển.
Thường xuyên khám âm đạo xem sợi chỉ của VTT có còn không để phát hiện sớm sự di chuyển. Chụp phim X quang và siêu âm để xác định vị trí của VTT so với tử cung. Điều trị VTT di chuyển vào xoang bụng bằng phẫu thuật nội soi hoặc mổ hở. Nên lấy VTT ra mặc dù chưa gây triệu chứng để tránh các biến chứng lủng ruột, lủng bọng đái hoặc tạo dò.
Theo chúng tôi biết, đây là ca thú 15 gây VRT cấp do VTT. Tài liệu tham khảo: 1. Thalidomide and congenital abnormalities. British Medical Journal,1962 pp.
Introducing journal of medical case reports. J Med Case Reports. How to write a patient case report. Am J Health Syst Pharm.
How to write a case report. Student BMJ, Volume 12, Feb 2004 5.Chang HM, Chen TW, Hsieh CB, Chen CJ, Yu JC, Liu YC, Shen KL, Chan DC. Intrauterine contraceptive device appendicitis: a case report.2005;11:5414-5 15 Tieu luan THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐOÀN HỆ Nghiên cứu đoàn hệ (cohort) thường được các nhà dịch tễ học dùng để truy tìm nguyên nhân của bệnh hoặc nói đúng hơn là tìm các yếu tố nguy cơ liên hệ đến bệnh. Thuật ngữ cohort nguyên nghĩa là một đội quân lính La mã thời xưa (hình 1) có khoảng 300-600 người.
Trong nghiên cứu dịch tễ học, cohort dùng để chỉ tập hợp một nhóm người có cùng chung một đặc điểm nào đó nên một số dịch giả gọi là nghiên cứu thuần tập tuy vậy dùng từ nghiên cứu đoàn hệ có lẻ dễ hiểu hơn. Cohort lính La mã Nghiên cứu đoàn hệ được phân chia làm 3 loại: Nghiên cứu đoàn hệ tương lai, nghiên cứu đòan hệ hồi cứu và nghiên cứu đoàn hệ kết hợp vừa hồi cứu vừa tương lai. Nghiên cứu đoàn hệ tương lai (Prospective cohort study): Để tìm nguyên nhân của bệnh, khởi đầu nhà nghiên cứu chọn nhiều đoàn hệ, thông thường là 2 đoàn hệ, có các đặc điểm gần giống nhau (tuổi tác, dân tộc, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe …) và đều lành bệnh (bệnh chưa xuất hiện vào thời điểm nghiên cứu), chỉ yếu tố phơi nhiễm (exposures) là khác nhau giữa 2 đoàn hệ (ví dụ: có hút thuốc lá và không hút thuốc lá). Theo dõi tất cả các đối tượng này trong một khoảng thời gian (có thể 2-5-10 năm hoặc lâu hơn) và ghi nhận số trường hợp mắc bệnh (ung thư phổi) ở mỗi đoàn hệ.
Ví dụ minh họa trong biểu đồ 1, sau 10 năm theo dõi 5 người ở mỗi nhóm, kết cục có 2 người mắc ung thư phổi ở nhóm hút 16 Tieu luan thuốc và 1 người mắc ung thư phổi ở nhóm không hút thuốc lá. Như vậy nhóm hút thuốc lá có nguy cơ mắc ung thư phổi gấp đôi so với nhóm không hút thuốc lá hoặc theo từ ngữ dịch tễ học gọi là nguy cơ tương đối (relative risk) bằng 2! KẾT CỤC Thuốc lá (+) 2/5 mắc bệnh 10 năm ung thư phổi Thuốc lá (-) 1/5 mắc bệnh ung thư phổi NGUY CƠ TƯƠNG ĐỐI (RR)= 2/5: 1/5=2. So sánh số ca mắc giữa 2 đoàn hệ sau 10 năm Một nghiên cứu đoàn hệ kinh điển được thực hiện hơn 50 năm trước đây tại Anh quốc, tìm sự liên hệ giữa hút thuốc lá và ung thư phổi, các tác giả đã theo dõi 40 ngàn bác sĩ, được chia làm 4 đoàn hệ: không hút thuốc, hút thuốc ít, hút thuốc trung bình và hút thuốc nhiều. Qua nghiên cứu này có thể nói hút thuốc lá và ung thư phổi là một liên hệ nhân quả [1] Một nghiên cứu rất nổi tiếng khác là nghiên cứu đoàn hệ Framingham.
Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm các yếu tố phơi nhiễm có liên hệ đến bệnh tim mạch và đột quị. Năm 1948, các nhà nghiên cứu đã tuyển mộ một đoàn hệ gồm 5209 người nam và nữ, tuổi từ 30-62 sinh sống tại thị trấn Framingham, Massachusetts ở Mỹ. Cứ mỗi 2 năm được tổng kiểm tra sức khỏe (hỏi tiền sử, khám lâm sàng, xét nghiệm…) một lần. Đến năm 1971, nghiên cứu tuyển mộ thêm 5124 người thuộc thế hệ 2, là con của thế hệ đầu tiên và đến năm 2002 lại tuyển thêm 4095 người thuộc 17 Tieu luan thế hệ thứ 3.
Cho tới hiện nay, kết quả của nghiên cứu này đã xác định các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch và đột quị gồm: thuốc lá, cholesterol máu cao, ít vận động, béo phì, tăng huyết áp, nồng độ aldosterone huyết thanh cao, mãn kinh…. [2] Một nghiên cứu đoàn hệ khác được nhiều người biết đến là nghiên cứu Ranch Hand, tên của một chiến dịch mà quân đội Mỹ đả rải hàng triệu tấn thuốc diệt cỏ Dioxin (chất độc da cam) trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam từ năm 1967-1971. Hiện nay các nhà khoa học cho rằng có sự liên hệ giữa nhiễm Dioxin và bệnh tật. Đề án Ranch Hand này được thành lập năm 1979 tại Mỹ.
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là tìm sự liên hệ giữa nhiễm Dioxin với tử vong và bệnh tật (dị tật bẩm sinh, ung thư các lọai: tuyến giáp, tiền liệt tuyến, phổi, các bệnh tật khác…) [3] Để thực hiện nghiên cứu này, nhà nghiên cứu đã tuyển mộ các cựu chiến binh và chia làm 2 đoàn hệ: Đoàn hệ phơi nhiễm Dioxin gồm những phi công tham gia rải chất Dioxin tại Việt Nam (1967-1971) được so sánh với đòan hệ không phơi nhiễm Dioxin (nhóm chứng) gồm những phi công vận chuyển hàng hóa ở khu vực Đông Nam Á trong cùng thời gian. Hiện nghiên cứu đoàn hệ này vẫn đang tiến hành và sẽ kết thúc khoảng 20 năm sau. Chiến dịch Ranch Hand (Việt nam 1967-1971) Trên đây là các nghiên cứu đoàn hệ tương lai nổi tiếng đã và đang thực hiện. Trong lọai hình nghiên cứu này, tại thời điểm bắt đầu tiến hành cả 2 nhóm tuyển chọn đều chưa mắc bệnh.
Sau một thời gian bị phơi nhiễm (thuốc lá, tăng huyết áp, cholesterol máu cao, béo phì hoặc nhiễm Dioxin….) một số đối tượng ở cả 2 nhóm sẽ mắc bệnh, nhà nghiên cứu theo dõi và xem tần suất phát sinh bệnh (incidence) hoặc gọi tần suất mắc mới, ở nhóm nào nhiều hơn. Lọai hình nghiên cứu đoàn hệ 18 Tieu luan tương lai ít bị sai lệch (bias) chẳng hạn như trong thu thập thông tin, sự diễn dịch liên hệ nhân-quả tương đối chính xác, tuy nhiên phải thực hiện trong nhiều năm, nên rất tốn kém và các đối tượng theo dõi dễ bị mất dấu. Để giảm thời gian và tiết kiệm chi phí, đặc biệt các loại bệnh hiếm gặp, loại hình nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu cũng được các nhà dịch tễ sử dụng để tìm sự liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và bệnh. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu (retrospective cohort study): Tại thời điểm nghiên cứu, yếu tố phơi nhiễm và kết cục ( mắc bệnh ) đều đã xảy ra.
Nhà nghiên cứu chỉ truy cứu hồ sơ tại bệnh viện hoặc các cơ quan lưu trữ để thu thập dữ liệu. Loại hình nghiên cứu này thực hiện nhanh, ít tốn kém nhưng có nhiều sai lệch trong thu thập thông tin, không kiểm sóat được các yếu tố gây nhiễu, vì vậy kết quả nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu thường có giá trị thấp hơn so với nghiên cứu đoàn hệ tương lai. Một ví dụ nghiên cứu đòan hệ hồi cứu tìm sự liên hệ giữa Dioxin và ung thư tiền liệt tuyến (TLT) trên các cựu chiến binh tham chiến tại Việt Nam, được công bố trên báo Cancer 2008 với tựa:” Agent Orange Exposure, Vietnam War Veterans, and the Risk of Prostate Cancer” [4]. Năm 1998 (thời điểm nghiên cứu), tác giả thu thập dữ liệu liên quan đến tất cả các cựu chiến binh đã tham chiến ở Đông Nam Á từ 1962- 1971 tại kho lưu trữ hồ sơ của Hội cựu chiến binh Bắc California.
Nhóm phơi nhiễm Dioxin gồm 6214 cựu chiến binh tham chiến tại Việt Nam và nhóm chứng gồm 6930 người không phơi nhiễm dioxin (không đóng quân tại Việt Nam trong cùng thời gian). Kết quả của nghiên đuợc trình bày trong bảng 1, nhóm phơi nhiễm Dioxin bị ung thư TLT gấp hai lần hơn (OR=2,19) so với nhóm không bị nhiễm Dioxin Bảng 1.