phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế học liệu điện tử hỗ trợ dạy học Toán song ngữ Anh – Việt cho học sinh lớp 4 Chƣơng 2: Thiết kế học liệu điện tử hỗ trợ dạy học Toán song ngữ Anh – Việt cho học sinh lớp 4 Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC TOÁN SONG NGỮ ANH – VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới HLĐT đƣợc sử dụng rất thịnh hành ở các nƣớc phƣơng Tây, đặc biệt là ở Mỹ.
Năm 1999, Học viện Công nghệ Massachusetts bắt đầu xem xét phƣơng thức sử dụng nguồn lực Internet trong việc thực hiện sứ mệnh giáo dục và nâng cao tri thức cho sinh viên. Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận đƣợc sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90. Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trƣờng đại học, cao đẳng đã đƣa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khóa học trực tuyến. Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trƣờng đại học, cao đẳng ở Mỹ đƣa ra mô hình E-Learning, số ngƣời tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004.
E- Learning không chỉ đƣợc triển khai ở các trƣờng đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Trong những gần đây, châu Âu đã có những thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng nhƣ ứng dụng E-Learning trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục. Các nƣớc trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức đƣợc tiềm năng to lớn mà CNTT mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lƣợng giáo dục. Ngoài việc tích cực triển khai E-Learning tại mỗi nƣớc, giữa các nƣớc châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E- Learning.
Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu Europe PACE. Đây là mạng E-Learning của 36 trƣờng đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia nhƣ Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E- 6 Learning của Mĩ - Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực nhƣ khoa học, nghệ thuật, con ngƣời phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu. Tại châu Á, E-Learning vẫn đang ở trong tình trạng mới phát triển, chƣa có nhiều thành công vì một số lí do nhƣ: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ƣa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia. Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng đƣợc bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu Á đang dần phải thừa nhận những tiềm năng mà E-Learning mang lại.
Một số quốc gia có nền kinh tế phát triển nhƣ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc,. đã và đang nỗ lực phát triển E-Learning. Trong đó, Nhật Bản là nƣớc có ứng dụng E- Learning nhiều nhất so với các nƣớc khác trong khu vực. Năm 2000, dự án học liệu mở OCW(Open Courseware) đƣợc đề xuất.
Năm 2002, MIT đã cho chạy thử một website gồm 50 môn học. Ở Pháp, năm 1905 nhà tâm lý học A.Binet cộng tác với bác sĩ T.Simon để xây dựng trắc nghiệm trí tuệ của trẻ từ 3 – 15 tuổi. Trắc nghiệm Binet – T.Simon là trắc nghiệm đƣợc tiêu chuẩn hóa đầu tiên không chỉ ở nội dung trắc nghiệm mà còn ở cả thủ tục thực hiện và cách xử lý những tài liệu thu đƣợc. Hiện nay, phƣơng pháp này đƣợc sử dụng trong các kỳ thi đặc biệt là ngoại ngữ và lựa chọn nghề.
Tình hình cho thấy, việc áp dụng học liệu điện tử đang đƣợc sử dụng khá phổ biến trên nhiều nƣớc. Song, việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học Toán song ngữ ở cấp bậc Tiểu học thì chƣa đƣợc tìm hiểu sâu và còn khá mới mẻ. Trong nƣớc Ở Việt Nam, cũng đã bắt đầu có một số nghiên cứu về HLĐT và sử dụng HLĐT với tƣ cách là phƣơng tiện dạy học. 7 vào môi trƣờng đào tạo ở Việt Nam nhƣ: Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển - ứng dụng CNTT và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông ICT/ rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E- Learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (ĐH Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-Learning đầu tiên đƣợc tổ chức tại Việt Nam.
Các trƣờng đại học ở Việt Nam cũng bƣớc đầu nghiên cứu và triển khai E-Learning, một số trƣờng bƣớc đầu đã triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQG Hà Nội, Viện CNTT – ĐHQG Hà Nội, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP Hồ Chí Minh, Học viện Bƣu chính Viễn thông,. Cục Công nghệ thông tin của Bộ GD&ĐT đã triển khai cổng E- Learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-Learning trên thế giới và ở Việt Nam. Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trƣờng một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo. Tuy các sản phẩm này chƣa phải là sản phẩm lớn, đƣợc đóng gói hoàn chỉnh nhƣng đã bƣớc đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển E-Learning ở Việt Nam.
Việt Nam đã gia nhập mạng E-Learning châu Á (Asia E-Learning Network - AEN, www.net) với sự tham gia của Bộ GD&ĐT, Bộ Khoa học - Công nghệ, trƣờng Đại học Bách Khoa Hà Nội, Bộ Bƣu chính Viễn Thông. Một số nghiên cứu về E-learning trong thời gian qua tại Việt Nam có thể kể đến tác giả Nguyễn Thị Lƣơng với nghiên cứu về “E - Learning và ứng dụng thiết kế bài giảng điện tử Elearning" [10]; tác giả Nguyễn Thị Lệ với nghiên cứu về "Nghiên cứu Elearning và đề xuất giải pháp sử dụng Elearning trong nhà trƣờng THPT" [11]; tác giả Tô Minh Châu với nghiên cứu "Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học địa lý kinh tế xã hội lớp 11 trƣờng THPT" [12] ; tác giả Vũ Thị Hƣơng với nghiên cứu "Tìm hiểu và ứng dụng hệ thống E-learning" …. Ở Việt Nam, thực hiện chủ trƣơng Nhà nƣớc về ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo, nhiều viện và trƣờng đã nhanh chóng nắm bắt đƣợc xu thế 8 phát triển của đào tạo trực tuyến. Theo số liệu cung cấp tại Hội thảo “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện CNTT (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa CNTT (Đại học Bách Khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức tháng 3 năm 2005, có 37 trƣờng đang triển khai đào tạo trực tuyến (Tri Nam TDI,JSC, 2009) nhƣ: Viện Đại học Mở Hà Nội, Viện Công nghệ Thông tin-Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Ngoại thƣơng, Đại học Mở TP.
Hồ Chí Minh,. Một số hệ thống LMS phổ biến hiện nay trên thế giới phải kể đến là: BlackBoard, WebCT, Atutor, Itias, Moodle, Dokeos. Việc chọn lựa một hệ thống LMS phải đƣợc xem xét nhiều yếu tố, chủ yếu dựa trên: khả năng mở rộng, chuẩn hệ thống tuân theo, hệ thống đóng hay mở, tính thân thiện ngƣời dùng, sự hỗ trợ các ngôn ngữ và hệ điều hành khác nhau, khả năng cung cấp các mô hình học và giá cả. Thực tế hiện nay, nhiều viện, trƣờng ở Việt Nam đang triển khai e-learning dựa trên phần mềm mã nguồn mở (open source) nhƣ Moodle, Dokeos nhằm tiết kiệm chi phí trong quá trình triển khai nhƣng vẫn đảm bảo những tính năng cơ bản.
Hệ thống Moodle và Dokeos nổi bật là thiết kế hƣớng tới giáo dục, dễ sử dụng với giao diện trực quan, cho phép giảng viên tạo, quản lý và cung cấp bài giảng trên môi trƣờng web một cách rất dễ dàng với 4 nhóm chức năng chính nhƣ hầu hết các hệ thống E-learning khác. Năm 1974, ở Miền Nam đã tổ chức thi tú tài bằng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan. Tác giả Nguyễn Nhƣ An dùng phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan trong việc thực hiện đề tài “Bƣớc đầu nghiên cứu nhận thức tâm lý của sinh viên đại học sƣ phạm” năm 1976 và đề tài “Vận dụng phƣơng pháp test và phƣơng pháp kiểm tra truyền thông trong dạy học tâm lí học” năm 1978. Tác giả Nguyễn Hữu Long, cán bộ giảng dạy khoa tâm lý, với đề tài: “Test trong dạy học”.
Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2012 “ Xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên sƣ phạm trong dạy học môn giáo dục học ở trƣờng Đại học Đồng Tháp” áp dụng trực tiếp vào môi trƣờng sƣ phạm. 9 Những năm gần đây nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo, Bộ giáo dục và đào tạo và các trƣờng đại học đã tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi về việc cải tiến hệ thống các phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá của sinh viên trong nƣớc và trên thế giới, các khóa huấn luyện, cung cấp những hiểu biết cơ bản về lƣợng giá giáo dục, ứng dụng CNTT vào giảng dạy đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Nhƣ vậy, HLĐT xuất hiện trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học với ứng dụng khác nhau. Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụng HLĐT còn hạn chế nhất là trong các trƣờng học cấp tiểu học.
Để HS có thể làm quen dần với HLĐT, hiện nay, Bộ giáo dục và đào tạo đã khuyến khích đƣa CNTT vào giảng dạy trong tiểu học. Tuy nhiên HLĐT trong dạy học Toán song ngữ Anh – Việt lớp 4 còn ít và khá mới mẻ. Tóm lại, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc áp dụng HLĐT trong dạy học. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu xoay quanh đối tƣợng HS cấp trung học phổ thông trở lên.