Đặt vấn đề Vui chơi là một trong những nhu cầu tự nhiên, cần thiết đối với cuộc sống của trẻ nhỏ. Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi. Phương châm “chơi mà học, học mà choi” là vấn để được đặt lên hàng đầu đối với trẻ MN. Thông qua hoạt động chơi với đồ chơi sẽ giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết, làm cho hứng thú và tinh cảm của trẻ cũng phát triển, đặc biệt là góp phdn làm cho khả năng tư duy, kha năng ngôn ngữ của trẻ din dần được hoàn thiện.
Mục tiêu của GDMN là chăm sóc và giáo dục trẻ pháttriển toàn diện theo Š lĩnh vực. Trong đó, phát triển ngôn ngữ cho trẻ em lả một nhiệm vụ quan trọng của ngành GDMN đặc biệt là đối với trẻ trong độ tuổi MGL. Công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ MN bao gồm nhiều nội dung. Đó là: “Luyén cho trẻ phát âm đúng, làm giàu vốn từ cho trẻ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ học chữ, giáo dục trẻ có khó khăn về nói” [15-1].
Trong đó, nội dung cho trẻ LQVCC va chữ viết là một trong những nội dung đóng vai trò hết sức quan trọng. Các nhà giáo dục học đã khẳng định rằng: “Cho trẻ LQVCC, giúp hình thành và phát triển năng lực phát âm, nhận biết chữ cái, sao chép chữ cái cho trẻ là điều cần thiết để chuẩn bị cho việc học Tiếng Việt p] 1” [17 lớ Hoạt động cho trẻ LQVCC là một nội dung của việc chuẩn bị cho trẻ học chữ trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 5-6 tuổi. Vì vậy nó có ý nghĩa trực triếp trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi này. Nhiều nhà khoa học đã khẳng định: “các kỹ năng đọc và viết sau này của trẻ em phải dựa vào thành tựu tiếng nói mà trẻ đạt được ở giai đoạn trước tuổi học” [2].
Nội dung “LQVCC” trong trường mẫu giáo giúp trẻ đạt đến độ “chín muỗi” cần thiết về khả năng nghe, nói, phát âm và hiểu Tiếng Việt. Trước hết là rèn luyện kỹ năng nghe, nói, giúp trẻ phân biệt và phát âm chính xác các chữ cái có trong Tiếng Việt, thông qua các hoạt động như: cho trẻ liên tưởng đến những sự vật có hình dạng giếng với chữ cái đã học hoặc cho trẻ gọi tên các đồ vật có những âm bắt đầu bằng chữ cái đã được làm quen. Việc cho trẻ LQVCC cũng làm cho vén từ của trẻ được phát triển giúp cho trẻ hiểu được mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết. Ngoài ra, thông qua việc LQVCC ở các vị trí khác Trang 8 nhau của từ giúp trẻ phát triển óc quan sát, ghi nhớ, chú ý có chủ định.
Cho trẻ LQVCC còn góp phan kích thích phát triển tư duy, trí nhớ, thể hiện ở chỗ trẻ đã xác định tính chất đặc điểm của chữ đó bằng cách so sánh, tìm kiếm các từ, tiếng thông qua các đồ vật. Như vậy, trẻ nhận ra chữ đó qua việc phát âm và làm quen với mặt chữ chứ không phải chỉ thông qua mặt chữ. Đây là cơ sở quan trọng để trẻ tiếp nhận tri thức và giúp trẻ học đọc, học viết tốt ở bậc học phd thông. Để hình thành và phát triển cho trẻ các năng lực phát âm, nhận biết chữ cái, sao chép chữ cái, GVMN có thể sử dụng nhiều hình thức tổ chức hoạt động LQVCC như: sử dụngtranh ảnh, vật thật, tổ chức môi trường chữ cái va đặc biệt 1a sử dụng trò chơi và đồ chơi.
Trong các loại đề chơi thì DCHT là một phương tiện hiệu quả giúp trẻ LQVCC. Bởi thông qua các loại DCHT có nội dung chơi yêu cầu trẻ nhận biết phân biệt vị trí của chữ cái có trong từ, nhận dạng các chữ cái một cách chính xác qua các mô hình, tranh vẽ, chữ nổi hoặc chữ chìm hay yêu cầu trẻ sao chép hình dáng của các chữ cái. sẽ giúp trẻ phát âm, nhận dạng chính xác các chữ cái có trong Tiếng Việt — cơ sở để hình thành kỹ năng đọc, viết cho trẻ. Mặt khác, ĐCHT là loại đề chơi phải chơi theo luật và luật chơi ở đây là do giáo viên để ra chính vì vậy khi tổ chức cho trẻ chơi với loại đề chơi này giáo viên dé dang đạt được mục đích giáo dục.
Thực tiễn GDMN hiện nay cho thấy, vấn để cho trẻ 5-6 tuổi LQVCC trong Tiếng Việt được giáo viên rất quan tâm. Các giáo viên đã tổ nhiều hoạt động giúp trẻ tiếp thu chữ cái một cách dễ dàng như: sử dụng trò chơi, tạo môi trường chữ viết và đặc biệt là sử dụng đồ chơi học tập. Da số giáo viên đã nhận thức được tằm quan trọng của ĐCHT giúp trẻ LQVCC. Song qua thực tiễn cho thấy giáo viên chỉ chủ yếu sử dụng các bộ đề chơi có sẵn trên thị trường như: các thẻ chữ cái rời, chữ cái bằng nhựa, bằng gỗ để tổ chức cho trẻ chơi, qua đó giúp trẻ LQVCC trong Tiếng Việt.
Những loại đồ chơi này có ưu điểm là bền, chơi được lâu, song giá thành lại cao, hình thức chưa phong phú (chủ yếu chỉ thể hiện hình dáng của các chữ cái) vì vậy sẽ không chơi được ở nhiều dạng trò chơi với mục đích phát triển ngôn ngữ khác nhau (sao chép hình đáng của chữ cái, qua đó giúp trẻ học cách viết các chữ cái, sao chép từ cho sẵn trên tranh lô tô - giúp trẻ xác định vị trí của chữ cái trong từ, học cách ghép các chữ cái để tạo từ đơn giản, nhận biết chữ cái qua đặc điểm đặc trưng về hình dáng của chúng - giúp trẻ củng cố biểu tượng chữ cái cho trẻ). - Trang 9 Đặc điểm tư duy của trẻ MGL là tư duy cụ thể chiếm ưu thế, khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế. Bởi vậy, nếu muốn dạy trẻ LQVCC, giáo viên cần phải kết hợp với đồ vật, tranh ảnh. “Sự kết hợp này được lặp lại nhiều lần sẽ giúp trẻ thiết lập được mối liên hệ thần kinh tạm thời trên vỏ não.
Từ đó, trẻ đễ dàng nhận ra kí hiệu chữ cái” [32-118]. Như vậy, với cách thiết kế của những DCHT có sẵn trên thị trường ma hiện nay giáo viên sử dụng để dạy trẻ LQVCC là chưa phù hợp với đặc điểm tư duy của trẻ MGL. Vì thế mà hiệu quả của việc cho trẻ LQVCC chưa cao. Chính vì vậy để góp phần hoàn thiện khả năng ngôn ngữ và giúp chuẩn bị tâm thế cho trẻ học đọc và học viết ở lớp 1 chúng tôi chọn dé tài “Thiết kế đề chơi học tập giúp trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non làm quen với chữ cái trong Tiếng Việt" để nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận và tìm hiểu nhận thức của GVMN về ĐCHTgiúp trẻ 5-6 tuổi LQVCC trong Tiếng Việt ở các trường MN hiện nay, chúng tôi tiến hành thiết kế và thử nghiệm một sế ĐCHT giúp trẻ 5-6 tuổi LQVCC, qua đó góp phần hoàn thiện khả năng ngôn ngữ và giúp chuẩn bị tâm thế cho trẻ học đọc và học viết ở lớp 1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Các ĐCHT giúp trẻ 5-6 tuổi LQVCC trong Tiếng Việt 3. Khách thể nghiên cứu Trẻ 5-6 tuổi tại một số trường MN thuộc TPHCM.
Giả thuyết nghiên cứu Chúng tôi cho rằng nếu GVMN nhận biết và thiết kế được DCHT giúp trẻ LQVCC trong Tiếng Việt phù hợp thì sẽ góp phần hoàn thiện khả năng ngòn ngữ và giúp chuẩn bị tâm thé cho trẻ học đọc và học viết ở lớp 1. Nhiệm vụ nghiên cứu 5. Nhiệm vụ nghiên cứu lí luận Trang 10 Xây dựng | sé khái niệm công cụ của dé tài, tổng hợp và hệ thống hóa | số vấn đề lí luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, làm cơ sở cho việc thiết kế DCHT giúp trẻ 5-6 tuổi ở trường MN LQVCC trong Tiếng Việt. Nhiệm vụ nghiên cứu thực trạng Tim hiểu nhận thức của GVMN về sự cần thiết của DCHT và những hiểu biết của họ về việc phân loại ĐCHT theo mục đích giáo dục.
Tìm hiểu nhận thức của GVMN về DCHT giúp trẻ 5-6 tuôi ở trường MN LQVCC trong Tiếng Việt. Thiết kế và thử nghiệm Từ cơ sở lí luận và tìm hiểu thực trạng chúng tôi tiến hành thiết kế và thử nghiệm tinh khả thi của một số DCHT giúp trẻ 5-6 tuổi ở trường MN LQVCC trong Tiếng Việt mà đề tài đã thiết kế. Phạm vi nghiên cứu 6. Nội dung nghiên cứu Ở khóa luận này, chúng tôi chỉ thiết kế và thử nghiệm một số DCHT giúp trẻ 5- 6 tuổi ở trường MN LQVCC trong Tiếng Việt ở hoạt động vui chơi và ở góc LQVCC tại lớp.
Địa bàn nghiên cứu Vi thời gian có hạn nên ở khóa luận này, chúng tôi chỉ khảo sát thực trạng và tiến hành thử nghiệm tại một số trường MN ở Q. Tân Bình thuộc TPHCM. Phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận về đồ chơi và DCHT, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGL va vấn dé thiết kế ĐCHTgiúp trẻ 5-6 tuổi LQVCC trong Tiếng Việt.
Phương pháp sử dụng phiếu điều tra Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra (anket) để tìm hiểu nhận thức của GVMN về sự cần thiết của DCHT. Ngoài ra phiếu điều tra (anket) còn được chúng tôi sử dụng để Trang II tìm hiểu nhận thức và khó khăn của GVMN vẻ việc thiết kế ĐCHT giúp trẻ 5 -6 tuổi LQVCC. Phương pháp quan sát Chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát dé tìm hiểu những ĐCHT giúp trẻ 5-6 tuổi LQVCC có ở tại các nhóm lớp hiện nay, đồng thời quan sát cách giáo viên tổ chức cho trẻ chơi với những đồ chơi đó. Đây là một trong những cơ sở giúp chúng tôi có thể nhận xét thực trạng việc thiết kế DCHT giúp trẻ 5-6 tuổi LQVCC của GVMN hiện nay.
Phương pháp đàm thoại Chúng tôi sử dụng phương pháp này dé trò chuyện với BGH các trường MN nhằm tìm hiểu quan điểm chỉ đạo của họ về việc thiết kế DCHT giúp trẻ 5-6 tudi LQVCC trong Tiếng Việt. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp này để trò chuyện với GVMN để tìm hiểu thêm những van dé mà chúng tôi đang nghiên cứu.