Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Hệ thống câu hỏi phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo trong giờ làm quen với chữ cái" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Thảo (Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Hồng Đức) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Anh vào tháng 06 năm 2021. Đề tài thuộc lĩnh vực Giáo dục Mầm non và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em lứa tuổi mầm non.
Lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ vai trò của giao tiếp và ngôn ngữ đối với sự hình thành nhân cách của trẻ. Dẫn luận từ quan điểm của C. Mác về việc con người muốn tồn tại phải gắn bó với cộng đồng thông qua giao tiếp và ngôn ngữ, tác giả khẳng định ngôn ngữ là công cụ giao tiếp và phương tiện xã hội hóa cơ bản của trẻ em. Ở giai đoạn mẫu giáo (đặc biệt là trẻ 5–6 tuổi), bộ máy phát âm của trẻ dần hoàn thiện, vốn từ vựng phong phú hơn và cấu trúc ngữ pháp mở rộng từ câu đơn sang các dạng câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ. Hoạt động cho trẻ làm quen với 29 chữ cái Tiếng Việt tại trường mầm non giữ vị trí quan trọng trong việc chuẩn hóa phát âm, mở rộng vốn từ, hoàn thiện ngữ pháp và chuẩn bị tâm thế cho trẻ bước vào lớp 1. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc chặt chẽ vào nghệ thuật sư phạm và cách thức tổ chức câu hỏi của giáo viên. Một hệ thống câu hỏi logic, có định hướng sẽ kích hoạt tư duy, lôi cuốn trẻ tham gia tương tác và rèn luyện kĩ năng diễn đạt mạch lạc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến việc đặt câu hỏi trong dạy học và phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo.
- Khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên và mức độ hứng thú, khả năng tiếp thu của trẻ trong giờ làm quen với chữ cái tại trường mầm non.
- Đề xuất các nguyên tắc và xây dựng hệ thống câu hỏi chuyên biệt (gồm câu hỏi nhận biết, cấu tạo, so sánh và mở rộng) nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo.
- Thiết kế hệ thống giáo án thể nghiệm ứng dụng các dạng câu hỏi đã xây dựng trên các nhóm chữ cái cụ thể.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo trong giờ làm quen với chữ cái.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào cơ sở lý luận dạy học mầm non và khảo sát thực tiễn tại trường mầm non trên địa bàn huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (trọng tâm là Trường Mầm non Xuân Lai, thực hiện khảo sát trên giáo viên đứng lớp và trẻ lớp Mẫu giáo lớn 5–6 tuổi A1).
- Bố cục khóa luận: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính gồm 3 chương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên sự kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước về nghệ thuật đặt câu hỏi trong dạy học:
- Nghiên cứu quốc tế: Đề tài điểm lại tư tưởng đàm thoại gợi mở từ thời cổ đại của Socrát (470–390 TCN / 429–399 TCN) và phương pháp đưa người học vào tình huống của Khổng Tử (551–479 TCN); các lý thuyết dạy học của B.F. Skinner (Mỹ), W. Okoń (Ba Lan); mô hình đặt câu hỏi hiệu quả cao (HEO) của Ivan Hanel; các công trình lý luận dạy học văn của I.A. Rez và N.I. Kudriashev (Nhikonxki) nhấn mạnh tính hệ thống và không gian thảo luận tự do của câu hỏi.
- Nghiên cứu trong nước: Kế thừa các công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy, cảm thụ tác phẩm và hệ thống câu hỏi của GS. Phan Trọng Luận, GS. Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Viết Chữ, Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Trí, Đinh Thái Hương, Trương Dĩnh, Hoàng Dư; các luận văn và luận án của Dương Thị Mai Hương, Dương Thị Quy, Nguyễn Quang Cương, Nguyễn Thị Ngân và các kỷ yếu hội thảo chuyên đề của Trường Đại học Giáo dục.
- Khái niệm công cụ: Tác giả vận dụng định nghĩa logic học của Aristote: "Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cái đã biết và cái chưa biết" (Câu hỏi = Cái đã biết + Cái chưa biết cần tìm). Trong sư phạm, câu hỏi là cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt yêu cầu nhận thức mà người học cần giải quyết.
- Khái niệm kĩ năng giao tiếp ở trẻ mẫu giáo: Khóa luận xác định kĩ năng giao tiếp là sự nhận biết mau lẹ các dấu hiệu bên ngoài và diễn biến tâm lý bên trong của đối tượng giao tiếp, đồng thời sử dụng hiệu quả phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Tác giả phân lập 9 kĩ năng thành phần: (1) Nhận ra sắc thái biểu cảm lời nói; (2) Nghe hiểu và thực hiện chuỗi chỉ dẫn hành động (ít nhất 3 chỉ dẫn); (3) Sử dụng từ ngữ phù hợp hoàn cảnh; (4) Sử dụng lời nói bày tỏ cảm xúc, nhu cầu, kinh nghiệm; (5) Điều chỉnh âm lượng và giọng nói; (6) Sử dụng phương tiện phi ngôn từ (cử chỉ, ánh mắt, nét mặt); (7) Làm chủ bản thân và tự tin khi giao tiếp; (8) Kĩ năng hỏi han, phản hồi khi tiếp nhận thông tin; (9) Nhận thức và phán đoán phản ứng của đối tượng giao tiếp.
- Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mẫu giáo: Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tín hiệu thứ hai; bước chuyển từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng (xuất hiện tư duy trực quan sơ đồ và các yếu tố tư duy logic ban đầu); tri giác có chủ định dần hình thành; trí nhớ không chủ định chiếm ưu thế; tính chú ý thiếu bền vững và dễ phân tán; cảm xúc chi phối mạnh mẽ hoạt động nhận thức.
- Đặc trưng ngôn ngữ học của 29 chữ cái Tiếng Việt: Hệ thống nét cơ bản cấu tạo chữ cái gồm nét thẳng (thẳng đứng, thẳng ngang), nét cong (cong hở trái/phải, cong kín), nét móc (móc trái, móc phải, móc hai đầu), nét khuyết (khuyết trên, khuyết dưới), nét xiên, nét thắt và các nét dư liên kết.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa tài liệu, phương pháp lịch sử nhằm xác lập cơ sở khoa học của câu hỏi và sự phát triển ngôn ngữ mầm non.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra thực trạng: Sử dụng phiếu an-két khảo sát giáo viên mầm non dạy lớp 5–6 tuổi về mức độ và tần suất sử dụng các loại câu hỏi.
- Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với giáo viên mầm non về thuận lợi, khó khăn khi thiết kế câu hỏi.
- Quan sát sư phạm và đàm thoại: Dự giờ trực tiếp tiết dạy làm quen chữ cái "u, ư" tại lớp Mẫu giáo lớn A1 Trường Mầm non Xuân Lai để quan sát thái độ, đánh giá mức độ hứng thú và khả năng ghi nhớ của trẻ.
- Phương pháp thể nghiệm sư phạm: Thiết kế các giáo án thực hành minh họa ứng dụng hệ thống câu hỏi.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu:
- Số liệu khảo sát thực tế từ 6 giáo viên mầm non và 30 trẻ lớp 5–6 tuổi A1 Trường Mầm non Xuân Lai, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Các tài liệu văn bản chuyên ngành giáo dục mầm non, chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non và các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo trong giờ làm quen với chữ cái
Chương này trình bày toàn diện khung lý thuyết về câu hỏi, tâm lý học lứa tuổi, phương pháp chuyên biệt cho môn học và số liệu khảo sát thực trạng:
- Hệ thống phân loại câu hỏi trong dạy học:
- Theo mức độ phát triển trí tuệ: Câu hỏi bình thường (tái hiện, kiểm tra trí nhớ); Câu hỏi tình huống (chứa đựng trở ngại nhận thức, yêu cầu phán đoán); Câu hỏi mở ("câu hỏi treo", kích thích tư duy độc lập).
- Theo kiến thức trả lời và mức độ tư duy: Câu hỏi loại "phát biểu" (nội dung có sẵn, ngắn, không yêu cầu sáng tạo); Câu hỏi loại "giải thích" (truy xuất tư duy, phân tích nguyên nhân, dùng từ hỏi trực tiếp hoặc từ mệnh lệnh có gợi ý).
- Theo mục tiêu lý luận dạy học: Câu hỏi khai thác kiến thức (cùng xây dựng bài, thảo luận nhóm, khám phá); Câu hỏi kiểm tra kiến thức và kĩ năng; Câu hỏi thu hút sự chú ý.
-
Đặc điểm tổ chức giờ làm quen với chữ cái:
Một tiết học gồm 2 phần chính: Làm quen với chữ cái (cung cấp kiến thức mới, phân tích nét chữ, hướng dẫn tư thế ngồi và cách cầm bút) và Trò chơi học tập (luyện phát âm, khắc sâu mặt chữ). Các trò chơi được tác giả mô tả quy trình tổ chức gồm: "Rung chuông vàng", "Gạch chân chữ cái đã học", "Cánh cửa thần". Chương này cũng đề xuất phương pháp giáo dục cá biệt: đối với trẻ nhút nhát cần đặt câu hỏi từ dễ đến khó và khích lệ trước lớp; đối với trẻ hiếu động cần giới hạn thời gian hoạt động tĩnh và giao nhiệm vụ trả lời cụ thể.
-
Kết quả khảo sát thực trạng:
- Khảo sát nhận thức của giáo viên (tại Trường Mầm non Xuân Lai, Thọ Xuân):
| Nội dung khảo sát |
Tỷ lệ phản hồi (%) |
Số lượng giáo viên (n=6) |
| Nhận thức việc xây dựng câu hỏi là rất quan trọng |
83% |
5/6 |
| Chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng |
13% |
1/6 |
- Khảo sát mức độ hứng thú của 30 trẻ lớp 5–6 tuổi A1 trong giờ học chữ cái "u, ư":
| Mức độ hứng thú của trẻ |
Số lượng (trẻ) |
Tỷ lệ (%) |
| Rất hứng thú |
8/30 |
26,6% |
| Hứng thú |
15/30 |
50,0% |
| Không hứng thú |
7/30 |
23,4% |
Khảo sát ghi nhận 90% trẻ ghi nhớ được tên gọi, cấu tạo và cách phát âm chữ cái sau tiết học. Trẻ có kĩ năng trả lời câu hỏi mở ở mức khá, biết liên hệ thực tế nhưng thao tác sử dụng đồ dùng học tập còn lúng túng, cần sự trợ giúp của giáo viên.
Chương 2. Xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ Mẫu giáo trong giờ làm quen với chữ cái
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, xác lập 4 nguyên tắc sư phạm và xây dựng 4 nhóm câu hỏi chuyên biệt:
- Bốn nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi:
- Nguyên tắc tính hệ thống: Câu hỏi sắp xếp theo trình tự logic, cặp câu hỏi - câu trả lời trước là tiền đề nhận thức cho cặp câu hỏi - câu trả lời sau, hình thành thao tác tư duy hoàn chỉnh.
- Nguyên tắc đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp: Kết hợp câu hỏi cấp thấp (ghi nhớ, tái hiện) với câu hỏi cấp cao (phân tích, so sánh, suy luận) để lôi cuốn toàn bộ học sinh, tránh việc trẻ khá ỷ lại hoặc trẻ trung bình bị quá tải.
- Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp: Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, khả năng nhận thức theo độ tuổi, gắn chặt với chủ đề bài học và cân đối về số lượng câu hỏi để không làm loãng thời gian luyện tập của trẻ.
- Nguyên tắc phát huy sự sáng tạo: Ưu tiên chất lượng câu hỏi gợi mở, khơi dậy nhu cầu tìm hiểu tri thức và tạo điều kiện cho trẻ diễn đạt theo cách hiểu riêng.
- Hệ thống 4 nhóm câu hỏi trong giờ làm quen với chữ cái:
- Câu hỏi nhận biết chữ cái ("Quan sát - định hướng"): Định hướng tri giác, nhận diện chữ cái trong từ khóa, tranh ảnh, thơ ca, câu đố và rèn luyện phát âm chuẩn. Ví dụ: nhận biết chữ "k" trong từ "Ô tô khách", chữ "g", "y" qua tranh "Nhà ga", "Máy bay", chữ "m", "n" qua câu đố và bài vè.
- Câu hỏi về cấu tạo chữ cái (câu hỏi phân tích): Mổ xẻ đặc điểm hình học của chữ cái dựa trên các nét cơ bản (nét thẳng, nét móc, nét cong, nét khuyết, nét xiên, nét thắt). Ví dụ: nhận xét nét sổ thẳng và nét móc trên của chữ "n", phân tích hai nét móc liền nhau của chữ "m", nhận diện chữ in thường và in hoa trong tên gọi của trẻ và giáo viên.
- Câu hỏi so sánh cấu tạo: Yêu cầu trẻ đối chiếu, tìm ra điểm giống nhau và khác nhau về mặt hình thái giữa các chữ cái cùng nhóm hoặc gần dạng (như so sánh o - ô - ơ, b - d - đ, u - ư).
- Câu hỏi mở rộng: Kích thích liên tưởng không gian, liên hệ thực tiễn đời sống, tích hợp âm nhạc, văn học và câu đố nhằm mở rộng vốn từ và nâng cao kĩ năng giao tiếp ngữ cảnh.
Chương 3. Thiết kế giáo án thể nghiệm
Chương 3 cụ thể hóa hệ thống câu hỏi đã xây dựng thành 4 giáo án tổ chức hoạt động học cho trẻ mẫu giáo lớn (5–6 tuổi):
- Giáo án 1: Làm quen với chữ cái l, h, k (tập trung câu hỏi nhận biết qua tranh ảnh, phân tích cấu tạo nét sổ thẳng, nét móc, nét xiên và câu hỏi so sánh chữ l, h, k).
- Giáo án 2: Làm quen với chữ cái a, ă, â (sử dụng hệ thống câu đố, câu hỏi nhận biết dấu mũ ngã của chữ ă, dấu mũ nón của chữ â và câu hỏi mở rộng liên hệ hình học que diêm).
- Giáo án 3: Làm quen với chữ cái g, y (khai thác chủ đề Giao thông, câu hỏi đàm thoại về phương tiện đường sắt, hàng không và câu hỏi phân tích chữ in thường, in hoa qua thẻ tên cá nhân).
- Giáo án 4: Làm quen với chữ cái p, q (tập trung hệ thống câu hỏi so sánh vị trí nét cong tròn khép kín bên trái/bên phải và nét sổ thẳng để khắc phục lỗi nhầm lẫn của trẻ).
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu thực chứng và định lượng có trong văn bản:
- Đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên: 83% giáo viên được khảo sát khẳng định việc xây dựng câu hỏi có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức giờ làm quen với chữ cái, trong khi 13% giáo viên chưa nhận thức đầy đủ.
- Mức độ hứng thú của trẻ mẫu giáo: Trong tiết dạy quan sát chữ cái "u, ư" tại lớp 5–6 tuổi A1 (n=30), tỷ lệ trẻ đạt mức rất hứng thú là 26,6% (8 trẻ), mức hứng thú là 50% (15 trẻ) và không hứng thú là 23,4% (7 trẻ).
- Hiệu quả nhận thức: Sau giờ học có ứng dụng câu hỏi đàm thoại, 90% trẻ ghi nhớ chính xác tên gọi, cấu tạo nét và cách phát âm chữ cái.
Giải pháp và kiến nghị sư phạm của tác giả:
- Giáo viên cần phân loại đối tượng trẻ để luân chuyển hệ thống câu hỏi phù hợp; tích cực khen ngợi trẻ nhút nhát và điều tiết hoạt động của trẻ hiếu động.
- Kết hợp đa dạng các hình thức câu hỏi với các trò chơi học tập ("Rung chuông vàng", "Gạch chân chữ cái", "Cánh cửa thần") và ngữ liệu đồng dao, thơ ca nhằm tạo môi trường giao tiếp tự nhiên.
- Nhà trường và gia đình cần phối hợp tạo điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng trực quan để hỗ trợ trẻ hoàn thiện kĩ năng ngôn ngữ.
Đóng góp của khóa luận:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về câu hỏi dạy học và cụ thể hóa thành 4 nguyên tắc, 4 dạng câu hỏi đặc thù áp dụng trực tiếp cho phân môn Làm quen với chữ cái ở bậc học Mầm non.
- Khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong phương pháp đặt câu hỏi truyền thống tại trường mầm non bằng cách thiết lập cấu trúc câu hỏi có phân hóa trình độ nhận thức.
- Xây dựng 4 giáo án thể nghiệm mẫu làm tài liệu trực quan cho giáo viên mầm non trong việc phát triển kĩ năng diễn đạt, trả lời câu hỏi trọn câu và mở rộng vốn từ cho trẻ 5–6 tuổi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn và quy mô khảo sát thực trạng còn giới hạn trong phạm vi một số trường mầm non tại huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (khảo sát trực tiếp 6 giáo viên và 30 trẻ tại Trường Mầm non Xuân Lai). Khóa luận mới dừng lại ở việc thiết kế 4 giáo án thể nghiệm mà chưa tiến hành thực nghiệm đối chứng trên diện rộng để đo lường các chỉ số tăng trưởng ngôn ngữ bằng phương pháp thống kê toán học.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát trên nhiều địa bàn trường mầm non khác nhau; triển khai thực nghiệm dạy học đối chứng giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng theo thang đo chuẩn hóa nhằm kiểm định sâu hơn hiệu quả của hệ thống câu hỏi đối với từng kĩ năng giao tiếp cụ thể của trẻ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Tài liệu hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non, giáo viên mầm non trực tiếp phụ trách lớp Mẫu giáo nhỡ (4–5 tuổi) và Mẫu giáo lớn (5–6 tuổi), cán bộ quản lý chuyên môn tại các cơ sở giáo dục mầm non.
- Nội dung tham khảo trọng tâm:
- Bảng phân loại câu hỏi và 4 nguyên tắc sư phạm khi xây dựng câu hỏi phát triển ngôn ngữ (Chương 2).
- Quy trình tổ chức các trò chơi phát âm và nhận diện chữ cái: "Rung chuông vàng", "Cánh cửa thần", "Gạch chân chữ cái" (Chương 1).
- Bốn mẫu giáo án thể nghiệm chi tiết cho các nhóm chữ cái l-h-k, a-ă-â, g-y, p-q (Chương 3) có thể ứng dụng trực tiếp trong soạn giảng thực tế.
Câu hỏi thường gặp
-
Khóa luận phân chia hệ thống câu hỏi phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ trong giờ làm quen với chữ cái thành những nhóm cụ thể nào?
Khóa luận phân chia thành 4 nhóm câu hỏi chính: (1) Câu hỏi nhận biết chữ cái (quan sát - định hướng tên gọi, phát âm); (2) Câu hỏi về cấu tạo chữ cái (phân tích các nét cơ bản); (3) Câu hỏi so sánh cấu tạo (đối chiếu điểm giống và khác nhau giữa các chữ cái); (4) Câu hỏi mở rộng (liên hệ thực tiễn, ca dao, đồng dao, câu đố).
-
Kết quả khảo sát thực tế về mức độ hứng thú của 30 trẻ lớp 5–6 tuổi A1 Trường Mầm non Xuân Lai trong tiết làm quen chữ "u, ư" đạt tỷ lệ như thế nào?
Kết quả ghi nhận: Mức độ Rất hứng thú đạt 26,6% (8/30 trẻ); Mức độ Hứng thú đạt 50,0% (15/30 trẻ); Mức độ Không hứng thú chiếm 23,4% (7/30 trẻ). Đồng thời, 90% trẻ ghi nhớ được tên gọi, cấu tạo và cách phát âm chữ cái sau tiết học.
-
Tác giả đề xuất những nguyên tắc nào khi xây dựng hệ thống câu hỏi cho trẻ mẫu giáo?
Tác giả xác lập 4 nguyên tắc sư phạm: (1) Câu hỏi phải được xây dựng theo một hệ thống logic; (2) Hệ thống câu hỏi đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp; (3) Hệ thống câu hỏi phải đảm bảo tính phù hợp với lứa tuổi và nội dung bài học; (4) Hệ thống câu hỏi phải phát huy sự sáng tạo của trẻ.
-
Bảng chữ cái Tiếng Việt được tác giả phân tích gồm bao nhiêu chữ cái và những nhóm nét cơ bản nào?
Văn bản nêu rõ Bảng chữ cái Tiếng Việt có 29 chữ cái, được cấu tạo từ các nhóm nét cơ bản: nét thẳng (thẳng đứng, thẳng ngang), nét cong (cong hở trái/phải, cong kín), nét móc (móc trái, móc phải, móc 2 đầu), nét khuyết (khuyết trên, khuyết dưới), nét xiên, nét thắt và các nét dư liên kết.
-
Những trò chơi học tập nào được tác giả giới thiệu trong khóa luận để rèn luyện kĩ năng phát âm và nhận diện chữ cái cho trẻ?
Tác giả giới thiệu 3 trò chơi học tập tiêu biểu gồm: Trò chơi "Rung chuông vàng" (luyện phản xạ tìm thẻ chữ theo âm vị phát âm), Trò chơi "Gạch chân chữ cái đã học" (nhận diện chữ cái trong bài thơ, tranh ảnh theo đội) và Trò chơi "Cánh cửa thần" (đọc đúng tên chữ cái trên thẻ để qua cửa).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thảo đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng câu hỏi trong dạy học làm quen với chữ cái ở trường mầm non. Thông qua kết quả khảo sát thực trạng tại Trường Mầm non Xuân Lai, đề tài đã xây dựng hệ thống 4 nhóm câu hỏi sư phạm và cụ thể hóa thành 4 giáo án thể nghiệm có cấu trúc khoa học. Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực, góp phần nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non trong việc phát triển vốn từ và hoàn thiện kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo lớn.