MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách giáo dục phổ thông là đổi mới nội dung và phƣơng pháp giáo dục (PPGD) nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh (HS). Để thực hiện mục tiêu này, thời gian qua ngành giáo dục đã có nhiều nỗ lực xây dựng lại chƣơng trình theo hƣớng cập nhật và giảm tải, áp dụng PPGD chủ động, lấy ngƣời học làm trung tâm, biên soạn lại sách giáo khoa (SGK) và tài liệu dạy học để đảm bảo chuyển tải đƣợc những nội dung mới và thực hiện đƣợc theo phƣơng pháp (PP) mới. Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định nhiệm vụ và các nhóm giải pháp đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chƣơng trình giáo dục (mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp giáo dục) theo hƣớng phát triển phẩm chất và năng lực ngƣời học.
Theo đó: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp dạy và học theo hƣớng khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức , kỹ năng của ngƣời học, tập trung dạy cách học , cách nghĩ và tƣ̣ ho ̣c , theo phƣơng châm “giảng ít, học nhiều”. Chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Bồi dƣỡng khát vọng học tập suốt đời” [1]. Tuy nhiên, hiệu quả của cải cách giáo dục, đặc biệt đối với hoạt động dạy học (HĐDH) các môn khoa học xã hội và nhân văn, tiêu biểu là môn Ngữ văn ở trƣờng trung học phổ thông (THPT) thời gian qua còn hạn chế.
PPGD chủ động dù đã đƣợc đƣa vào áp dụng, nhƣng đa số giáo viên (GV) hiện nay vẫn chỉ sử dụng PP “thầy đọc trò ghi”. PPGD thụ động, mang tính truyền thụ một chiều từ phía ngƣời dạy đến ngƣời học khiến cho việc học tập trở nên nhàm chán, mất hứng thú. HĐDH chỉ là một quá trình cung cấp - tiếp thu khô cứng chứ không phải là quá 8 trình trao đổi năng động, tích cực, không kích thích ngƣời học suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện và sáng tạo cái mới để nâng cao năng lực tƣ duy, mỹ cảm. Kết quả thực tế của việc giảm tải chƣơng trình Ngữ văn THPT chƣa đáng kể.
Cách kiểm tra đánh giá (KTĐG) vẫn nặng về kiến thức sách vở, chủ yếu là kiến thức nhớ và tái hiện; mục đích của KTĐG chủ yếu để phục vụ quản lý nhƣ xếp loại học sinh (HS), xét lên lớp, tốt nghiệp… Trong khi đó, chức năng cung cấp thông tin phản hồi cho HS và GV về quá trình dạy học của KTĐG nhằm phát hiện những ƣu điểm và khắc phục các nhƣợc điểm của HS để giúp các em phát triển đến mức tối đa mọi tiềm năng của mình dƣờng nhƣ đã bị “lãng quên”. Do vậy, bên cạnh việc đổi mới chƣơng trình, yêu cầu về đổi mới PPGD và đổi mới KTĐG là quan trọng và cần thiết để phát huy hiệu quả HĐDH môn Ngữ văn ở trƣờng THPT. Văn học là nghệ thuật của ngôn từ. Để tìm hiểu, cảm thụ một tác phẩm văn chƣơng, ngoài việc soạn bài, nghe giảng trên lớp, HS cần có một thời lƣợng đáng kể để tự đọc và suy ngẫm, bình giá về giá trị của tác phẩm đó, cao hơn nữa là rút ra đƣợc chính kiến của mình về một vấn đề văn học, một hiện tƣợng văn học trên nhiều quan điểm khác nhau, đứng từ các khía cạnh nghiên cứu khác nhau của các nhà nghiên cứu.
Làm đƣợc điều này, cần xây dựng văn hóa đọc trong nhà trƣờng THPT. Xây dựng văn hóa đọc cũng là một trong những cách thức tích cực góp phần đổi mới PPGD môn Ngữ văn trong nhà trƣờng THPT hiện nay. Từ các lý do đó, tác giả luận văn chọn đề tài “Tác động của văn hóa đọc đến việc học tập môn Ngữ văn của học sinh trung học phổ thông (nghiên cứu trường hợp trường trung học phổ thông Tây Thụy Anh, Thái Thụy, Thái Bình)” làm khách thể nghiên cứu vì đây là môi trƣờng sƣ phạm mà bản thân tác giả là một GV trực tiếp dạy học. Việc lựa chọn khách thể nghiên cứu giúp tác giả thuận tiện hơn trong khảo sát, đồng thời đề tài nghiên cứu cũng là một sản phẩm có thể ứng dụng cho công việc chuyên môn của bản thân.
Mục đích nghiên cứu của đề tài 9 Đề tài nhằm đánh giá tác động của văn hóa đọc đến việc học tập môn Ngữ văn của HS trƣờng THPT Tây Thụy Anh (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình). Từ đó, đƣa ra một mô hình học tập môn Ngữ văn tích cực khai thác những lợi thế của văn hóa đọc trong nhà trƣờng THPT. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 3. Câu hỏi nghiên cứu (1) Những yếu tố nào tác động đến văn hóa đọc của HS THPT? (2) Văn hóa đọc có tác động nhƣ thế nào đến hoạt động học tập môn Ngữ văn của học sinh THPT? 3.
Giả thuyết nghiên cứu Những học sinh đọc càng nhiều sách về Ngữ văn thì học văn càng tốt. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 4. Khách thể nghiên cứu HS THPT Tây Thụy Anh (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình). Đối tượng nghiên cứu Tác động của văn hóa đọc đến việc học tập môn Ngữ văn.
Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu HS của 3 khối 10, 11 và 12 của trƣờng THPT Tây Thụy Anh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình năm học 2012 - 2013. Do điều kiện thời gian và khả năng nghiên cứu của cá nhân, đề tài chỉ đánh giá tác động của văn hóa đọc nhƣ là một cách thức học tập tích cực đến việc học tập môn Ngữ văn của HS THPT Tây Thụy Anh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu 6. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Tiến hành thu thập các tài liệu liên quan đến văn hóa đọc, PPGD và KTĐG môn Ngữ văn của HS THPT, từ đó xây dựng cơ sở lý luận, hoàn thiện mô hình nghiên cứu về tác động của văn hóa đọc đến việc học tập môn Ngữ văn của HS THPT.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Nghiên cứu sử dụng khảo sát là phƣơng tiện chính để thu thập thông tin, sử dụng công cụ là bảng hỏi kết hợp với quan sát và phỏng vấn hoạt động đọc của GV và HS trƣờng THPT Tây Thụy Anh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong mối tƣơng quan với văn hóa đọc của gia đình, nhà trƣờng và địa phƣơng. 11 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu của tác giả nƣớc ngoài Hai tác giả Anna Jönsson và Josefin Olsson (2008) đã tiến hành nghiên cứu về văn hóa đọc và việc đọc thông viết thạo ở Uganda (Nghiên cứu trƣờng hợp “Dự án đọc tại lều đọc của trẻ em”).
Các phƣơng pháp (PP) đƣợc sử dụng là phỏng vấn bán cấu trúc và quan sát hoạt động đọc của trẻ em. Nghiên cứu đã phỏng vấn mƣời trong số các tổ chức của dự án, hai mƣơi trẻ em tham gia và tiến hành sáu quan sát. Nghiên cứu đƣa ra kết luận rằng trẻ em tham gia tiếp xúc với một nền văn hóa đọc trong trƣờng học và văn hóa (VH) truyền miệng ở gia đình, địa phƣơng. Hoạt động đọc và viết đƣợc thực hành ở trƣờng, còn các hoạt động VH khác nhƣ kể chuyện và tiếp nhận thông tin qua hình thức truyền miệng (hình thức VH phổ biến lƣu hành của ngƣời bản địa).
Để hình thành văn hóa đọc của trẻ em khi chúng đã quen tiếp nhận tri thức qua hình thức học truyền miệng, cần đặt các em vào môi trƣờng văn hóa đọc, cung cấp thật nhiều sách và chỉ ra cho các em thấy kiến thức từ sách vở mang lại thú vị và giàu có hơn rất nhiều, từ đó hình thành sở thích đọc, thói quen đọc trong cộng đồng [22]. Các tác giả Erika Daniels, San Marcos và Michael [18] đã tiến hành nghiên cứu kiểm tra ảnh hƣởng của văn hóa đọc tại trƣờng trung học cơ sở Parkdale khi bộ máy quản lý mới triển khai đồng bộ các biện pháp nghiên cứu, xây dựng và tạo hiệu ứng lan tỏa một nền văn hóa đọc trong toàn trƣờng. Các báo cáo từ GV cho rằng sự tham gia của HS đã tăng khi tập trung toàn trƣờng vào việc đọc sách. Phỏng vấn sâu và thảo luận đã đƣợc tiến hành với một mẫu ngẫu nhiên 108 HS các khối lớp 6, 7, 8 và GV của họ tại trƣờng THCS Parkdale.
85 nhân viên làm việc trong khuôn viên trƣờng, 17 GV và các quản trị 12 viên cũng tham gia vào nghiên cứu này thông qua một loạt các cuộc thảo luận nhóm tập trung. 18 HS đƣợc lựa chọn để phỏng vấn cá nhân với các nhà nghiên cứu. Thêm 90 HS tham gia thảo luận trong các lớp không có mặt GV. Việc đọc đƣợc phân loại theo ba chủ đề: đọc là một hoạt động đƣợc ƣu tiên hàng đầu đƣợc nhà trƣờng ƣu tiên tối đa thời gian cho phép, mô hình hóa việc đọc (chú trọng đọc im lặng (silent reading) và đọc có hệ thống) bằng sự hỗ trợ của cán bộ, GV trong trƣờng, và tạo ra động cơ thúc đẩy môi trƣờng học tập.
Mỗi ngày, GV yêu cầu HS đọc thầm tập trung 15 phút, có thể đọc nhiều hơn nếu có nhu cầu. Mỗi lớp học đƣợc xem là một thƣ viện thu nhỏ. GV đƣợc hỗ trợ tiền mua sách và đƣợc giao quản lý hoạt động đọc của HS. Hiệu trƣởng thƣờng xuyên kiểm tra hoạt động thảo luận sách của cán bộ, GV và HS.
Ông cũng sẽ hỏi HS của mình về việc họ đã đọc sách nhƣ thế nào khi bắt gặp HS trong khuôn viên của trƣờng. GV và HS cho rằng thời gian dành cho việc đọc sách, cách tiếp cận và việc phổ cập hoạt động đọc sách toàn trƣờng đóng góp đáng kể trong việc tạo ra một môi trƣờng đọc tích cực trong nhà trƣờng. Kết quả đạt đƣợc của nghiên cứu: Phần lớn GV và HS đã chủ động phân bổ thêm thời gian cho việc đọc thực sự. GV đã có ý thức tự thành lập các câu lạc bộ sách thông qua số sách đƣợc nhà trƣờng đầu tƣ, số sách các đồng nghiệp, GV và HS trao đổi với nhau.
Các GV đã trở thành “chuyên gia” trong việc tổ chức hoạt động đọc cho đồng nghiệp và HS. HS tham gia tƣơng tác với sách và hình thành sở thích, thói quen và kỹ năng đọc sách do ảnh hƣởng GV.