Chương 1, chúng tôi cũng tiến hành khái quát về việc sự xuất hiện điển cố, điển tích trong SGK Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay. Khái niệm ngôn ngữ, văn học và mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn học 1. Khái niệm “ngôn ngữ” Trong tiến trình phát triển của văn minh nhân loại, vấn đề ngôn ngữ là gì đã thu hút được sự quan tâm đáng kể. Ngôn ngữ là kết quả của một quá trình sáng tạo lâu dài, có tổ chức phức tạp bậc nhất và có những năng lực phục vụ cho con người vào loại kỳ diệu nhất trong tất cả những thứ mà con người sáng tạo ra bấy lâu nay.
Ngôn ngữ vốn có nhiều đặc điểm thuộc những bình diện khác nhau cho nên hầu hết các sách nghiên cứu, các giáo trình giảng dạy về ngôn ngữ học đều đưa ra những quan niệm của mình về khái niệm này. Trong giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học, GS. Vũ Đức Nghiệu và GS. Nguyễn Văn Hiệp có đưa ra nhận định về “ngôn ngữ” như sau: “Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt: Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người do ý muốn và nhu cầu của chính loài người là phải giao tiếp với nhau trong quá trình liên kết các cá thể để tổ chức thành những cộng đồng và xã hội, để tồn tại và phát triển.
Bên ngoài xã hội, ngôn ngữ không thể phát sinh. Ngôn ngữ không phải là hiện tượng của cá nhân tôi hay cá nhân anh mà là của chúng ta. Đối với mỗi cá nhân, ngôn ngữ như một thiết chế xã hội chặt chẽ, được giữ gìn và phát triển trong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cả cộng đồng. Ngôn ngữ cũng không phải là hiện tượng sinh vật vì nó không mang tính di truyền.
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Nó không thuộc về kiến trúc thượng tầng của riêng một xã hội nào. Ngôn ngữ không mang tính giai cấp” [57]. 10 Trong cuốn Ngôn ngữ học đại cương: những nội dung quan yếu, GS.
Đinh Văn Đức lại cho rằng: “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, công cụ để tư duy, là chất liệu để biểu đạt ý nghĩ của con người. Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt tư duy và phương tiện giao tiếp tốt nhất được tạo ra theo nhu cầu của xã hội, phụng sự các lợi ích xã hội, cũng là động lực cho sự phát triển xã hội và cũng cho chính bản thân nó” [22]… Từ các nhận định trên, có thể khẳng định, ngôn ngữ là một tổ chức chặt chẽ có hệ thống mà con người vận dụng trong quá trình suy nghĩ, nói năng để định hình, để biểu hiện và trao đổi những tư tưởng, tình cảm với nhau. Cơ cấu của ngôn ngữ bao gồm: Hệ thống ngữ âm: mặt âm thanh của lời nói; Hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa: tập hợp các đơn vị định danh sự vật, sự tình, biểu hiện các loại ý nghĩa khác nhau của từng từ ngữ; Hệ thống ngữ pháp: tập hợp các quy tắc, cách tổ chức sắp xếp để tạo nên đơn vị câu, đơn vị văn bản thể hiện chức năng thông báo. Khái niệm “văn học” Khái niệm “văn học” ban đầu chỉ là hình thức văn tự của văn học.
Trong tiếng Latin, literature – littera nghĩa là “chữ cái”, tura nghĩa là “sự tổng hợp”; trong tiếng Hán, văn có nghĩa là “hội họp nhiều thứ mà thành văn chương” có thể hiểu là bài văn dưới dạng văn tự. Thoát thai từ văn học dân gian và ra đời cùng với chữ viết để ghi chép các văn thư nhà nước, văn học buổi đầu ở trong tình trạng gọi là “văn sử bất phân”. Người ta nói đến văn, thơ, phú nhưng chưa có khái niệm văn học như một bộ môn nghệ thuật ngôn từ. Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm về văn học như sau: Văn học là một sản phẩm lịch sử, văn học tự nó cũng là một quá trình.
Văn học chịu sự chi phối mạnh mẽ của đời sống thực tại, chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, triết học, tôn giáo, khoa học…Những ảnh hưởng cụ thể sẽ quy định bộ mặt văn học của mỗi thời. Văn học có thể phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và thời gian ở bất kì giới hạn nào. Với chất liệu ngôn từ, văn học có khả năng tái hiện lời nói và thế giới tư tưởng của con người [30]. Như vậy, cách hiểu khái quát nhất thì văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người, lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm.
Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn học Lâu nay, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cũng như nghiên cứu văn học đều thống nhất cho rằng, ngôn ngữ và văn học có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Mối quan hệ khăng khít này có thể được biểu hiện ra bên ngoài thành những phương tiện vật chất cụ thể, nhưng cũng có thể biểu hiện qua mối quan hệ bên trong. Mối quan hệ bên trong này được hình thành từ một trong những chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, đó là chức năng tư duy.Mác từng nói “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng”.
Không có ngôn ngữ, con người không thể tư duy. Nói một cách khác, mọi hoạt động tư duy của con người đều thực hiện trên chất liệu của ngôn ngữ. Lênin ngoài việc đánh giá “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người” còn nhấn mạnh đến chức năng quan trọng khác của ngôn ngữ là chức năng tư duy. Lênin cho rằng: “không có tư tưởng nào lại trống rỗng cả”.
Từ phương diện này, chúng ta nhận thấy, ngôn ngữ tham gia trực tiếp vào phần cốt lõi, phần ẩn sâu trong văn học. Mối quan hệ này chỉ được bộc lộ khi ta phân tích vai trò và chức năng của ngôn ngữ khi nó tham gia vào quá trình hình thành nên một tác phẩm văn học cụ thể. Trên phương diện này, ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tư duy, là linh hồn cho sự sáng tạo ra các tác phẩm văn học mang tính cá nhân của mỗi tác giả mà còn là một phương tiện lưu giữ thông tin, truyền bá những kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cụ thể là nhờ có ngôn ngữ làm công cụ để tư duy, sáng tạo các tác phẩm văn học mới được ra đời.
Nếu không có ngôn ngữ thì không thể tư duy, không thể sáng tạo, các tác giả vì thế cũng không thể cho ra đời các tác phẩm văn học mang nét sáng tạo riêng của cá nhân, phản ánh đời sống hiện thực qua góc nhìn và tư duy của tác giả. Xét cho cùng ẩn sau bên trong các tác phẩm văn học cũng chứa đựng mối quan hệ sâu sắc với ngôn ngữ. Nói tới mặt biểu hiện bên ngoài của mối quan hệ giữa văn học và ngôn ngữ là nói tới khả năng quan sát được những sự liên quan giữa văn học và ngôn ngữ trên cơ sở những dấu hiệu, ký hiệu cụ thể. Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu được hình thành từ những phản xạ không có điều kiện.
Thực chất nó là ký hiệu của ký hiệu và là hệ thống tín hiệu thứ hai, chỉ con người mới có được. Hệ thống ký hiệu này chính là các phương tiện tạo nên các sản phẩm văn hoá mang giá trị tinh thần, gọi là văn hoá phi vật thể. Trong văn học, ngôn ngữ là phương tiện trực tiếp cấu thành tác phẩm. Nó tham gia vào việc diễn đạt tư tưởng của nhà văn thông qua việc sử dụng 12 từ, việc đặt câu và xây dựng văn bản nghệ thuật.
Hay có thể hiểu đơn giản rằng, nhìn từ bên ngoài vào tác phẩm văn học ta có thể thấy rõ ràng các tác phẩm văn học được xây dựng nên từ ngôn ngữ, từ cách chọn lọc từ vựng, cách tổ chức sắp xếp câu cú trong văn bản hay cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật đều bắt nguồn từ hệ thống ngôn ngữ. Ngôn từ là yếu tố thứ nhất của văn học. Sáng tạo, tiếp nhận và đánh giá văn học không thể thiếu được yếu tố ấy. Ngôn từ nghệ thuật (ngôn từ văn học) là một sự phân tầng khác của ngôn ngữ tự nhiên, “tương xâm” nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ tự nhiên.
Nếu ngôn ngữ tự nhiên thường mang tính ổn định, thì ngôn từ nghệ thuật - đặc biệt là ngôn từ thơ - với tư cách là một “mã” nghệ thuật lại luôn thay đổi. Mỗi thời đại văn học, mỗi trào lưu, khuynh hướng và mỗi tác giả lại có cách sử dụng ngôn ngữ riêng để mang đến một “thực tại” và hình thức mới cho ngôn từ nghệ thuật. Như vậy, cho dù nhìn từ góc độ nào giữa văn học và ngôn ngữ cũng là mối quan hệ không thể tách rời. Mối quan hệ ấy được bộc lộ trên tất cả các cấp độ ngôn ngữ khi được sử dụng vào văn học, cụ thể là từ cấp độ âm vị cho đến cấp độ văn bản.
Về điển cố, điển tích 1. Khái niệm điển cố, điển tích a) Những vấn đề về cách gọi tên khái niệm Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp hai từ “điển tích” và “điển cố”. Có thể hiểu một cách đơn giản nhất như sau: “Điển” là kinh điển, là thường, phép tắc hay chủ trương, coi sóc việc gì đó; “Tích” là xưa, trước, lâu, ban đêm; Cố là bền, vững bền, kín đáo, sẵn, vốn đã, nhiều lần (cố nhiên, tất nhiên); Điển tích là sự tích chép trong sách vở xưa; Điển cố: Điển cũ tích xưa; sự tích, luật lệ cũ… Sử dụng điển cố là một nét đặc thù của văn học trung đại. Tuy nhiên, có một điều bất cập gây nhiều khó khăn cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu về lĩnh vực này đó là cho tới ngày nay vẫn chưa có một tên gọi thống nhất cho những điển xưa tích cũ.
Mỗi công trình nghiên cứu của mỗi tác giả lại sử dụng một thuật ngữ khác nhau. Có một số tác giả sử dụng thuật ngữ “điển tích” chẳng hạn như: Điển tích truyện Kiều của Phạm Đan Quế [63], Điển tích chọn lọc của Mộng Bình Sơn [68].