CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết về văn hóa đọc Sách là sản phẩm văn hóa, là kho tàng tri thức vô tận trong đời sống tinh thần của mỗi chúng ta. Nhờ sách, người đọc phát huy sự sáng tạo, vận dụng những kiến thức trong sách vào ứng dụng thực tế của bản thân để giải quyết các vấn đề trong cuộc sốngn. Vì thế, đọc sách đã trở thành một nhu cầu cần thiết không thể thiếu của mỗi con người, hoạt động đọc giúp bản thân tiếp nhận những nội dung trong sách theo các khía cạnh khác nhau.
Và đọc sách cũng là một trong những phương cách để hoàn thiện nhân cách con người, góp phần sự tiến bộ trong cuộc sống cá nhân và sự phát triển chung của xã hội. Do đó, VHĐ chính là một trong những nguồn năng lượng quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững. Khái niệm, vị trí và vai trò của văn hóa đọc Một số khái niệm về”VHĐ” Khái niệm VHĐ là một khái niệm đa nghĩa và phức tạp. Tùy theo góc độ nghiên cứu của mỗi học giả, đã có nhiều quan niệm khác nhau về VHĐ được đưa ra.
Theo tác giả Trần Thị Minh Nguyệt: “…văn hóa đọc của mỗi cá nhân là sự biểu hiện rõ nét xu hướng tinh thần và năng lực nhận thức của chính họ trong mối tương quan với các điều kiện văn hóa của xã hội đương thời”. Theo tác giả Nguyễn Hữu Viêm: “Văn hóa đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước… Còn ở nghĩa hẹp, đó là ứng xử, giá trị, và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân” (Nguyễn Hữu Viêm, 2009). Dưới một góc nhìn khác về văn hóa đọc, tác giả Vũ Dương Thúy Ngà cho rằng: “Văn hóa đọc là một hoạt động văn hóa của con người, thông qua việc đọc để tiếp nhận thông tin và tri thức.
Đó là sự tích hợp của các yếu tố như nhu cầu đọc, thói quen đọc và được biểu hiện qua hành vi, tập quán đọc của cá nhân và cộng đồng” (Vũ Dương Thúy Ngà, 2010). Theo tác giả Đỗ Thị Quyên: “Văn hóa đọc vốn là một thuật ngữ bao hàm việc đọc sách gắn với những chuẩn mực văn hóa. Văn hóa đọc gắn liền với việc học tập, 9 giải trí có mục đích lành mạnh và tích cực. Hành vi đọc sách trước hết vì mục đích phát triển cá nhân song khi trở thành phổ biến thì còn vì sự phát triển của toàn xã hội” (Đỗ Thị Quyên, 2017).
Từ các khái niệm VHĐ nêu trên, tác giả đưa ra hai định nghĩa về VHĐ như sau: VHĐ gắn liền với quá trình phát triển của con người, có ý nghĩa to lớn trong thời kỳ con người sử dụng giao tiếp với nhau bằng hình thức đọc và viết. Bên cạnh đó, VHĐ được xem là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, theo đó bao gồm ba yếu tố chính đó là thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc. Các thành phần này có mối quan hệ mật thiết với nhau cùng tác động qua lại lẫn nhau. Trong nghiên cứu của đề tài, từ hệ thống quan điểm cốt lõi về văn hóa và hoạt động đọc, chúng tôi cho rằng VHĐ là toàn bộ các phương thức đọc, sử dụng sách, tài liệu đọc của con người, phản ánh được khả năng sáng tạo của con người trong qua trình tự đọc, tự học bản thân.
Đối với SV, các phương thức, kỹ năng đọc sách gồm: các kỹ năng xác định phương hướng của người đọc (nhu cầu đọc, hứng thú đọc), kỹ năng tiếp nhận thông tin (kỹ năng đọc) và thái độ ứng xử với tài liệu. Từ nghiên cứu định hướng việc lĩnh hội và vận dụng dụng kiến thức trong tài liệu, chúng tôi xây dựng hệ thống tiêu chí để đánh giá VHĐ của SV trường ĐHNH TP. Hiện nay, việc quản lý, lưu trữ, truyền tải, tìm kiếm…thông tin ngày càng hoàn thiện hơn, khả năng tiếp cận với thông tin, tri thức của con người được mở rộng tới vô tận bởi sự phát triển của khoa học công nghệ. Điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đọc của con người, phản ảnh dấu ấn của nền văn minh thời đại.
Do đó, việc hình thành những năng lực tiếp nhận thông tin, cách ứng xử với tài liệu là yêu cầu để có thể duy trì và thúc đẩy VHĐ phát triển phù hợp với tiến trình phát triển của thời đại mới. Vị trí và vai trò của VHĐ Cùng với những thành tựu nổi bật về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, vị trí của VHĐ từng bước được đánh dấu qua các mốc phát triển xã hội. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, VHĐ mang đậm dấu ấn riêng phản ảnh sự tiến bộ của xã hội. Thông qua hoạt động đọc mà tri thức được tích lũy, các nền tảng kinh tế, xã hội ở mỗi thời kỳ lịch sử được hình thành.
Từ đó, sức mạnh của tri thức được gia tăng, giúp con người ngày càng vươn tới đỉnh cao trí tuệ, đón nhận tương lai để tồn tại, thích nghi với 10 thế giới thiên nhiên, với môi trường xã hội đang ngày càng phức tạp và vô cùng khắc nghiệt. Vai trò chủ đạo của VHĐ thể hiện qua việc tuyên truyền và lĩnh hội tri thức một cách hệ thống và sâu sắc mà văn hoá nghe, nhìn không thể làm được. Từ đó giúp con người và xã hội phát triển toàn diện hơn trên mọi lĩnh vực. Đối với SV, VHĐ mang ý nghĩa hết sức quan trọng.
VHĐ vừa giúp cho SV xây dựng cho bản thân một nên tảng, cơ sở kiến thức vững chắc, giúp ích cho việc đào tạo họ trở thành những nguồn nhân tài có chuyên môn, đạo đức, bản lĩnh, và có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội. Đồng thời, VHĐ có vai trò thúc đẩy quá trình bồi dưỡng, trau dồi kiến thức, kỹ năng trong cuộc sống, giúp hoàn thiện nhân cách của SV. Cụ thể như: Bồi đắp tri thức cho SV: Trong mỗi cuốn sách đều chứa đựng những bài học, những tri thức khoa học, giúp SV có thể hình thành thế giới quan khoa học hoàn chỉnh. Nhờ đó, SV có nhận thức đúng đắn trong mọi hoạt động sống của mình.
Tăng cương kỹ năng giao tiếp: Thói quen đọc sách sẽ giúp SV cải thiện kỹ năng giao tiếp hiệu quả, giúp SV diễn đạt tốt, vốn ngôn ngữ cũng từ đó mà phong phú hơn, đó cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển tư duy và nhận thức. Tăng cường tính tự học: Hoạt động đọc giúp bản thân mỗi người sẽ tự cải thiện bản thân, hoàn thiện nhân cách với các phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ và năng lực chuyên môn và các kỹ năng mềm để hòa nhịp cuộc sống. Để có kết quả học tập tốt, SV phải nỗ lực trong việc tự học và VHĐ chính là công cụ, là phương tiện hữu hiệu giúp cho SV hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, VHĐ là hình thức tự học giúp cho SV học tập suốt đời.
Từ sự phân tích vị trí và vai trò của VHĐ, phát triển VHĐ chính là sự kiến tạo những chuẩn mực và giá trị đọc lành mạnh cho toàn xã hội, do đó phát triển VHĐ vừa là ý thức, trách nhiệm, quyết tâm của mỗi cá nhân vừa là của toàn xã hội và mang ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển của một đất nước. Các yếu tố ảnh hưởng đến VHĐ VHĐ chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu cuả đề tài, nhóm tác giả đi vào phân tích hai nhóm yếu tố chính bao gồm yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Trong đó, yếu tố khách quan bao gồm về sự phát triển của khoa học công nghệ, thư viện, các phương tiện truyền thông, vai trò của gia đình, nhà 11 trường; yếu tố chủ quan chính là lứa tuổi, nghề nghiệp, kỹ năng đọc và trình độ văn hóa. Yếu tố chủ quan Nghề nghiệp: Định hướng mục tiêu nghề nghiệp là một hoạt động chủ yếu của SV từ khi ngồi trên ghế nhà trường, sau khi tốt nghiệp đến hết tuổi lao động.
Do vậy, hệ thống nhu cầu của SV, trong đó có nhu cầu đọc sẽ chịu ảnh hưởng bới tính chất nghề nghiệp. Định hướng nghề nghiệp của SV sẽ chi phối nhu cầu, phương thức tiếp nhận và đọc tài liệu và áp dụng thông tin. Trình độ học vấn: Tri thức là một trong những yếu tố căn bản chi phối đến nhu cầu đọc của con người. Hàm lượng tri thức càng cao thì nhu cầu đọc càng lớn, càng phong phú, từ đó dẫn đến yêu cầu nội dung đọc sâu hơn, đòi hỏi cách thức đọc đa dạng, nhiều nguồn thỏa mãn khác nhau, vì thế kỹ năng đọc được dần cải thiện, do đó trình độ học vấn có tác động rất lớn đến VHĐ của SV.
Thực tế cho thấy, trình độ văn hóa, năng lực nhận thức tỷ lệ thuận với nhu cầu đọc sách của SV. Chủ thể có trình độ càng cao sẽ có nhận thức càng lớn vì thế nhu cầu cần nâng tầm tri thức nhiều hơn. Độ tuổi: Tâm sinh lý ở mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ ảnh hưởng đến những cấp độ khác nhau VHĐ. Nhận thức con người được mở rộng nhất là khi ở độ tuổi trưởng thành, vì thế hoạt động đọc chủ yếu tập trung phục vụ cho việc học tập, phát triển bản thân và nhu cầu giải trí.
Tuy nhiên ở độ tuổi lao động, VHĐ lại biểu hiện rõ nét nhất chủ yếu phục vụ cho quá trình nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu công việc và mở rộng sự hiểu biết. Kỹ năng đọc: trong quá trình đọc sách, khả năng đọc của SV từng bước được xây dựng trở thành một kỹ năng. Kỹ năng đọc là khả năng tiếp thu và lĩnh hội kiến thức từ các tài liệu, sách vở. Đó là quá trình học tập và tìm hiểu, tự đúc rút ra kinh nghiệm cho bản thân người đọc sách.
Trình độ văn hóa cũng phản ánh kỹ năng đọc của mỗi cá nhân. Người có tri thức rộng thường có kỹ năng đọc tốt. Ngoài ra, chất lượng đọc cũng chịu sự chi phối bởi kỹ năng đọc, nếu có kỹ năng đọc chuẩn sẽ tiếp thu được thông tin của tài liệu. Ngược lại, nếu kỹ năng đọc kém, sẽ hiểu sai ý nghĩa của tác phẩm và những thông tin đó sẽ trở nên không có vô nghĩa.