CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công nghệ Về mặt thuật ngữ, công nghệ có thể được hiểu là nghệ thuật sử dụng công cụ. Trong luật khoa học và công nghệ của Việt Nam: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, kỹ năng, phương tiện, bí quyết, quy trình công cụ dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
Có thể thấy khái niệm công nghệ được đề cập phía trên chỉ hướng tới khía cạnh sản xuất vật chất của công nghệ hoặc cho rằng cốt lõi của công nghệ là kiến thức. Nhóm tác giả đã sử dụng khái niệm của Uỷ ban Kinh tế và Xã hội Châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) để định nghĩa về công nghệ: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và xử lý thông tin. Công nghệ bao gồm kỹ năng, phương pháp, kiến thức, thiết bị và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Công nghệ có thể hiểu theo một cách toàn diện nhất, mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội và bao gồm các phần vật thể là máy móc, thiết bị.
Khái niệm chuyển đổi số Chuyển đổi số mặc dù là thuật ngữ đã xuất hiện phổ biến trên thế giới trong những năm gần đây, tuy nhiên lại không có một định nghĩa chung nào chính xác về chuyển đổi số là gì? Đối với FSI - doanh nghiệp chuyển đổi số hàng đầu Việt Nam: “Chuyển đổi số (Digital Transformation) là quá trình thay đổi từ mô hình truyền thống sang doanh nghiệp số, bằng cách áp dụng công nghệ mới như điện toán đám mây (Cloud), dữ liệu lớn (Big data), Internet vạn vật (IOT),… thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty…”. Chuyển đổi số (Digital Transformation) đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4. Với mỗi một doanh nghiệp, mỗi cách thức vận hành, mô hình tổ chức khác nhau thì định nghĩa về chuyển đổi số cũng khác nhau. Nhưng nhìn chung, có thể hiểu chuyển đổi số theo nghĩa rộng rãi là “định hình lại các ngành bằng cách tái cơ cấu các mô hình hoạt động và kinh doanh hiện có”.
6 Chuyển đổi số được định nghĩa là: “Một quá trình nhằm mục đích cải thiện một thực thể bằng cách tạo ra những thay đổi đáng kể đối với các thuộc tính của nó thông qua sự kết hợp của công nghệ thông tin, máy tính, truyền thông và kết nối”. Tuy nhiên, chuyển đổi số không chỉ đơn giản là cài đặt một phần mềm mới, hoặc chuyển sang sử dụng điện toán đám mây, mà cốt lõi của chuyển đổi số là chuyển đổi mô hình kỹ thuật đòi hỏi cả về chuyên môn kiến thức kết hợp với tất cả các yếu tố liên quan tới công việc và có cả yếu tố con người trong đó. Khái niệm hoạt động đào tạo Đào tạo: “Là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, kĩ năng, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết để chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự do, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tác giả Trần Hoàng Nam đã đề cập đến định nghĩa hoạt động đào tạo của Nguyễn Thị Hồng Vân như sau: “Đào tạo là hoạt động truyền thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng và giáo dục thái độ nhằm giúp người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc một năng lực liên quan đến những mặt khác của cuộc sống.
Trong phạm vi một cơ sở giáo dục đại học, khái niệm hoạt động đào tạo bao gồm 3 hoạt động cơ bản: Hoạt động dạy - học là hoạt động trung tâm, có vai trò cốt lõi của hoạt động đào tạo; Hoạt động quản lý đào tạo; Hoạt động phục vụ và đảm bảo quá trình đào tạo”. Nhóm tác giả cũng đưa ra khái niệm về hoạt động đào tạo như sau: “Hoạt động đào tạo là hoạt động tiếp thu kiến thức, huấn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ nhằm giúp người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc một năng lực liên quan đến những mặt khác của cuộc sống”. Đào tạo chủ yếu được sử dụng cho bậc đại học, cao đẳng và dạy nghề trở lên. Hoạt động đào tạo bao gồm cả dạy và học.
Có thể hiểu một cách khái quát, hoạt động đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy và học, đảm bảo có đủ năng lực chuyên môn để tham gia vào thị trường lao động. Khái niệm chuyển đổi số trong hoạt động đào tạo đại học Chuyển đổi số trong hoạt động đào tạo đại học có thể hiểu là quá trình thay đổi từ đào tạo đại học truyền thống sang đào tạo số bằng cách áp dụng công nghệ trong 7 quá trình đào đạo, thay đổi cách lãnh đạo, quy trình làm việc của tổ chức nhằm nâng cao khả năng lĩnh hội, phát triển tri thức toàn diện của sinh viên và giảng viên. Việc áp dụng chuyển đổi số trong hoạt động đào tạo đại học đã và đang được các trường đại học trên địa bàn nước ta áp dụng như: Trường Đại học Ngoại thương, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Trường Đại học Thương Mại, Học viện Tài chính,. đang dần dần áp dụng từ đó sẽ lan rộng ra nhiều trường đại học trên cả nước để đối phó với tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp hiện nay.
Nội dung chuyển đổi số trong hoạt động đào tạo đại học 1. Chuyển đổi số trong hoạt động tuyển sinh Các quy định về chuyển đổi kỹ thuật số trong tuyển sinh đại học khác nhau giữa các quốc gia. Mỗi trường đại học ở quốc gia đó chủ yếu dựa trên các quy định về giáo dục của nước đó đề ra để xây dựng các chính sách tuyển sinh. Ở Việt Nam, việc chuyển đổi số trong tuyển sinh đại học dựa trên số lượng thí sinh, điểm sàn và yêu cầu ngành học dựa trên chỉ tiêu đã được công bố.
Việc chuyển đổi số trong công tác tuyển sinh chủ yếu tập trung vào các hoạt động như hạch toán chi phí, truyền thông tuyển sinh, tổ chức thi, xử lý điểm cho từng đối tượng. Công tác tuyển sinh những năm gần đây đặc biệt là tình hình dịch bệnh Covid- 19 kéo dài từ năm 2019-2022 chính vì vậy công tác tuyển sinh đã áp dụng công nghệ vào hoạt động tuyển sinh bằng cách giúp thí sinh có thể nộp hồ sơ xét tuyển, dự các buổi tư vấn ngành nghề, nhận kết quả xét tuyển, nhận giấy báo nhập học, làm thủ tục nhập học,. Quy trình công tác tuyển sinh bao gồm: đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh; thành lập Hội đồng tuyển sinh; hoạt động thanh tra; nhận hồ sơ đăng ký dự thi; lệ phí đăng ký dự thi; môn thi - thời gian thi; tập huấn về quy chế tuyển sinh cho các thành viên Hội đồng và các Ban; xác định điểm tuyển chọn, báo điểm cho thí sinh và triệu tập thí sinh đến trường; cuối cùng là chế độ báo cáo và lưu trữ. Chuyển đổi số trong chương trình đào tạo đại học Nội dung dạy và học ở các trường đại học hiện nay được quy định theo hệ thống kiến thức cơ bản, cơ sở và chuyên biệt; hệ thống kỹ năng phù hợp gắn với nghề nghiệp tương lai của sinh viên.
Quá trình giáo dục ở các trường đại học tạo ra những 8 nội dung cơ bản cho hoạt động học tập, nghiên cứu của sinh viên và giảng dạy của giảng viên. Nội dung đào tạo chịu sự chi phối bởi các mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo, đồng thời phục vụ cho việc thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, quy định việc lựa chọn phương tiện, phương pháp dạy học. Chương trình của các trường đại học trên cơ sở nội dung giảng dạy và mô hình giáo trình để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với chuyên ngành, nghề nghiệp do Sở Giáo dục và Đào tạo công bố. Chương trình đào tạo phải phản ánh cụ thể mục tiêu giáo dục của trường đại học, đồng thời đáp ứng nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của xã hội.
Xây dựng chương trình đào tạo cần phải có sự tham gia của các giảng viên, cán bộ quản lý và đại diện của các tổ chức. Chương trình đào tạo phải có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, đáp ứng chuẩn các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ. Bên cạnh đó, chương trình đào tạo phải được bổ sung định kỳ, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển giáo dục của địa phương cũng như trong cả nước. Chương trình đào tạo theo tín chỉ phải được thiết kế theo hướng liên thông với các khóa đào tạo, giáo dục khác, được đánh giá định kỳ và nâng cao chất lượng dựa trên kết quả đánh giá để chuyển đổi số thành công.
Các trường đại học hiện đã tải chương trình lên phần mềm điểm nhờ đó sinh viên có thể xem chương trình đào tạo được thuận tiện hơn. Chuyển đổi số trong hoạt động đánh giá kết quả đào tạo đại học của giảng viên Đánh giá trong giáo dục là việc xác định và đánh giá những giá trị mà sinh viên đã đạt được theo mục tiêu giáo dục và kiểm tra kết quả rèn luyện cần thực hiện hai việc sau: Đầu tiên, quan tâm các tiêu chuẩn trong quá trình đánh giá như + Phù hợp với mục tiêu: các giá trị của quá trình giáo dục được cụ thể hóa theo mục tiêu của nó. + Toàn diện: đánh giá đầy đủ mọi mặt các giá trị mà mục tiêu dạy và học đạt được. + Giá trị: giá trị đạt được của người học phải được chẩn đoán trong cả quá trình thực hiện lẫn trong sản phẩm cuối.
9 + Tính liên tục: xác định những gì đã hoàn thành trong quá khứ và dự báo những gì sẽ hoàn thành trong tương lai. Thứ hai, kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo cần phải có kế hoạch kiểm tra đánh giá của người dạy. Hàng năm, Nhà trường đã khảo sát chất lượng giảng dạy của giáo viên qua kênh Google Forms để giảng viên tự đánh giá hoạt động giảng dạy của mình. Đây được coi là một bước tiến mới trong việc đánh giá đối với người dạy.
Chuyển đổi số trong hoạt động dạy học Hoạt động dạy học là một hoạt động bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập và sinh thành ra nhau.