CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA ĐỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Những khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là từ được dùng rất sớm nhưng khái niệm văn hóa mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XIX mới xuất hiện. Văn hóa là một khái niệm rộng và bao quát mọi mặt từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần của con người.
Chính vì thế có rất nhiều định nghĩa về văn hóa được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Edward Tylor là tác giả tiên phong của ngành nhân học đã đưa ra định nghĩa về văn hóa trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” vào năm 1871 như sau: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và một số năng lực thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội” (E. Định nghĩa này của E. Tylor vẫn thường được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới dẫn ra như một mẫu mực có tính kinh điển, trong đó quan niệm văn hóa bao gồm một tổng thể những thành quả sáng tạo của con người.
Từ định nghĩa của Tylor nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa như của L.Watts… Trong cuốn Văn hóa: tổng thuật có phê phán các quan điểm và định nghĩa, hai nhà văn hóa người Mỹ là A. Kroeber và Cluc Khohn đã thống kê được: tính đến năm 1952, trên các sách báo phương Tây đã có khoảng 150 định nghĩa về văn hóa. Còn theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc, đến năm 1994, trên thế giới đã có trên 400 định nghĩa về văn hóa. Frederico Mayyor đã đưa ra một định nghĩa tiệm cận bản chất của văn hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao 1 động” (Thông tin Unessco 1989, tr.
Định nghĩa của ông nhấn mạnh đến vai trò của văn hóa góp phần phân biệt giữa dân tộc này và dân tộc khác. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, đạo đức, chữ viết, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàngn ngày về ăn mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, 2002, tập 3, tr.
Quan điểm của Hồ Chí Minh đã cho người đọc cái nhìn toàn diện, sâu sắc về văn hóa trong quan niệm và đời sống sinh hoạt của con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng. Tiếp theo là định nghĩa văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm, 2001, tr. Đây là định nghĩa theo loại hệ thống – cấu trúc. Theo tác giả, định nghĩa đã chỉ ra hệ tọa độ ba chiều, bao gồm chủ thể văn hóa, không gian văn hóa và thời gian văn hóa.
Có nhiều định nghĩa về Văn hóa, nhưng các định nghĩa thường bao hàm những nội dung chủ yếu sau: - Văn hóa là là hệ quả của sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, được hình thành trong hành trình sống của mỗi cộng đồng. Nó vừa được biểu hiện qua tất cả những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người làm ra, vừa được hàm chứa trong phương thức mà con người sáng tạo ra các sản phẩm đó. - Nó là thành tố có mặt trong các mối quan hệ xã hội, dù đó là quan hệ kinh tế hay tôn giáo, quan hệ pháp luật hay các quan hệ đời thường, … - Văn hóa đồng thời là các năng lực cấu thành nhân cách con người, làm hình thành nên lối sống, thói quen, phong tục, cách tư duy, ứng xử của con người, qua đó phản ánh chúng trong một môi trường cụ thể, làm nên diện mạo riêng của mỗi cộng đồng. Khi văn hóa được xem là một hiện tượng phổ quát của nhân sinh, liên quan đến tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống con người với những biểu hiện vô cùng phong phú và đa 2 dạng thì mọi góc độ tiếp cận đều khó có thể bao quát hết được phạm vi của nó.
Hơn nữa, xuất phát từ việc mỗi lĩnh vực hoạt động của con người đều có sự hiện diện của văn hóa nên gần đây người ta đã quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu và nhận diện văn hóa theo các lĩnh vực chuyên ngành như: văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực, văn hóa du lịch, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa giao tiếp, văn hóa giao thông, văn hóa pháp luật. Không thể phủ nhận được rằng, trong di sản văn hóa của một dân tộc/ cộng đồng bao giờ cũng kết tinh những giá trị tinh hoa đóng vai trò là nền tảng, cốt lõi, làm điểm tựa để nuôi dưỡng và bảo tồn sức sống của một dân tộc, bởi con người ở đâu và bao giờ, trong hành trình sống của mình cũng luôn hướng đến những giá trị tích cực, cũng luôn khát khao vươn tới chân – thiện – mỹ. Tuy nhiên, nếu như văn hóa là kiểu ứng xử đặc trưng của một cộng đồng trước những thách thức khác nhau của điều kiện tự nhiên và xã hội, thì sự ứng xử có thể thế này hoặc thế kia, có mặt tốt cũng có mặt xấu, có tích cực và cũng có tiêu cực, nhất là khi những điều kiện tự nhiên và xã hội không phù hợp hay đối lập với các nhu cầu và lợi ích của con người. Điều đó cũng có nghĩa rằng, trong diện mạo văn hóa của mỗi cộng đồng không chỉ gồm những mặt tích cực, giá trị mà còn có những nhược điểm, hạn chế.
Thêm vào đó, cái được coi là có giá trị văn hóa cũng không phải là những giá trị vĩnh hằng, bất biến, mà còn được xem xét tùy thuộc vào các góc nhìn và các tiêu chí đánh giá khác nhau. Ví dụ, “kính lão đắc thọ” là một nét đẹp thuần phong mỹ tục của dân tộc, tạo nên xã hội có lễ nghi phép tắc, làm nền tảng cho gia đình gia giáo và đạo đức “con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư”, nhưng trong xã hội bùng nổ thông tin, trong môi trường học tập cần tinh thần phản biện và năng động thì việc đặt nguyên tắc này lên đầu sẽ trở thành vật cản hạn chế tinh thần học hỏi, lật ngược để đào sâu vấn đề của những người trẻ tuổi, hay thậm chí hạn chế cả tinh thần giao tiếp thiện chí giữa cha mẹ và con cái trong gia đình. Xét trên phương diện thời gian, các thước đo giá trị cũng không phải bất biến, một đặc trưng văn hóa ở giai đoạn này có giá trị tích cực nhưng ở giai đoạn khác thì lại trở thành phản giá trị, thành lực cản khi nó không còn phù hợp để thích nghi trong bối cảnh mới. Bởi vậy, việc nghiên cứu, nhận diện văn hóa của một dân tộc cần có một cái nhìn toàn diện và biện chứng, trong đó không chỉ hướng đến việc khẳng định những mặt tích 3 cực, giá trị mà còn cần phải nhận diện cả những nhược điểm, những tiêu cực, hạn chế khi nó cũng là một phần tất yếu trong hành trang tinh thần của một dân tộc.
Khái niệm văn hoá đọc Nếu văn hóa là một phạm trù xã hội để chỉ phương thức sống đặc trưng của một cộng đồng, biểu hiện thông qua sự ứng xử giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, thì văn hoá đọc thuộc về lĩnh vực ứng xử xã hội, là tổng thể các hành vi thể hiện sự ứng xử của con người trong môi trường tiếp xúc và tiếp thu kiến thức thông qua chữ viết, là sự phát triển học thuật và mở rộng tầm nhìn vượt lên hạn chế không gian và thời gian của con người. Do đó, văn hóa đọc là một lĩnh vực biểu hiện của văn hóa – văn hóa ứng xử với việc đọc. “Văn hóa” là một khái niệm đa diện và bao quát nên “văn hóa đọc” - một lĩnh vực biểu hiện đặc thù của văn hóa cũng là một khái niệm rất khó minh định nên có không ít nghiên cứu đã xây dựng định nghĩa cho cụm từ này. Theo lời của nhà ngôn ngữ học Phạm Văn Tình khẳng định rằng: “Văn hóa đọc chính là thái độ, là cách ứng xử của chúng ta đối với tri thức sách vở.
Phải biết đọc sao cho hợp lý và bổ ích. Đọc sao cho hợp với quy luật tiếp nhận tri thức”1 Theo trang điện tử Thư viện quốc gia Việt Nam thì “ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước”2. Mỗi cá nhân sẽ phát triển ba yếu tố trên thông qua việc tự xây dựng thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc. Như vậy, thuật ngữ văn hóa đọc có thể hiểu ở hai phương diện: cá nhân và xã hội.
Đối với cá nhân, văn hóa đọc là hành vi xây dựng việc đọc trở thành thói quen, hoặc cao hơn là trở thành sở thích trong suốt cuộc đời mỗi người, là sự trau dồi thái độ và tinh thần đối với việc đọc và những sản phẩm vật chất liên quan đến việc đọc. Đối với xã hội, văn hóa đọc là việc những cá thể trong xã hội đó cùng xây dựng việc đọc qua nhiều 1 Vũ Thị Thu Hà (2013), “Văn hoá đọc ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển”, Tạp chí Thư viện Việt Nam (2), tr. 2 Nguyễn Hữu Viêm, “Văn hoá đọc và phát triển văn hoá đọc ở Việt Nam”, [https://nlv.vn/van-hoa- doc/van-hoa-doc-va-phat-trien-van-hoa-doc-o-viet- nam.html#:~:text=V%C4%83n%20ho%C3%A1%20%C4%91%E1%BB%8Dc%20l%C3%A0%20m%E1%BB %99t,quan%20qu%E1%BA%A3n%20l%C3%BD%20nh%C3%A0%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc], truy cập ngày 16/04/2023. 4 thế hệ, hình thành nên một nền văn hóa nơi đọc sách là một phần cuộc sống của họ, việc đọc được chia sẻ qua lại và ảnh hưởng sâu rộng tới ý thức và cuộc sống mỗi người.