Chương 1. Cơ sở lý luận về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập. Thực trạng về tác động của chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên khoa Quản Trị văn Phòng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số đối với chất lượng học tập của sinh viên Khoa Quản Trị văn Phòng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP. Một số khái niệm cơ bản 1. Chuyển đổi số Chuyển đổi số là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong thời đại công nghiệp 4.0 và có rất nhiều cách hiểu đối với thuật ngữ này. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông – Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia: “Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số.” Theo công ty kiểm toán PwC (2013) thì “Chuyển đổi số có thể hiểu là sự chuyển đổi cơ bản của toàn bộ thế giới kinh doanh (business world) thông qua việc thiết lập các công nghệ mới dựa trên nền tảng Internet với tác động cơ bản đến toàn xã hội.” Bên cạnh đó trang Tech Republic – Tạp trí trực tuyến, cộng đồng xã hội dành cho các chuyên gia CNTT đã đưa ra khái niệm chuyển đổi số được hiểu là“Cách sử dụng công nghệ để thực hiện lại quy trình sao cho hiệu quả hơn hoặc hiệu quả hơn.” Theo Microsoft lại cho rằng: “Chuyển đổi số là việc tư duy lại cách thức các tổ chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo ra những giá trị mới.” Theo tác giả Kaputa và cộng sự (2022) [18],“Chuyển đổi số là việc sử dụng kỹ thuật số, ngoài những cải tiến và hỗ trợ của các phương pháp truyền thống (văn bản, tương tác trực tiếp), nhằm khuyến khích và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.” Tóm lại, có nhiều quan niệm và cách diễn đạt khác nhau, nhưng có một điểm chung thống nhất: “Chuyển đổi số là quá trình tích hợp đầy đủ các công nghệ kỹ thuật số vào tất cả các lĩnh vực giáo dục, khoa học, kinh tế, xã hội,.làm thay đổi 11 tổng thể và toàn diện cách thức vận hành, mô hình hoạt động của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số như: công nghệ điện toán đám mây (Cloud Computing), dữ liệu lớn (big data), internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI); Giúp cho hoạt động sống và làm việc của cá nhân, tổ chức trở nên nhanh chóng và tiện lợi hơn.
Chất lượng học tập Trong quá trình nghiên cứu nhóm em thấy rằng do những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau nên đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “ Chất lượng học tập”, ở đây nhóm em đã tổng hợp từ hội thảo quốc gia về chất lượng giáo dục và kỹ năng sống (2003) và thu thập thông tin từ “Tài liệu Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục (2004) và nhận thấy có hai cách hiểu nổi bật và hợp lý theo quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc và Đặng Thành Hưng: Ở cách hiểu thứ nhất, Có thể kể đến quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc (2003)[1], trong hội thảo quốc gia về chất lượng giáo dục và kỹ năng sống, ông cho rằng “Chất lượng học tập là sự phù hợp với mục tiêu học tập và là kết quả tổng hợp phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu chương trình học tập – đào tạo ở từng người học, từng lớp, từng trường, địa phương và cả nước có được sự phát triển bền vững”. Ở cách hiểu thứ hai, theo quan điểm của tác giả Đặng Thành Hưng (2004)[2] trong nghiên cứu về “Một số lý luận và kỹ thuật đánh giá sự phát triển của giáo dục”, ông đã đưa ra “Chất lượng học tập là toàn bộ thuộc tính, đặc điểm bản chất của tất cả các bộ phận thuộc nền giáo dục nhất định. Làm cho nền giáo dục đó có khả năng đáp ứng các mục tiêu phát triển đất nước bền vững, thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của nhân dân và sự phát triển của người học. Khi một nền giáo dục có khả năng như vậy thì nó là nền giáo dục chất lượng mong muốn đối với mỗi quốc gia.” Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát về chất lượng học tập là chất lượng mà học sinh, sinh viên và mọi người được đào tạo từ hoạt động giáo dục hay có thể 12 hiểu đơn giản chất lượng học tập là sự đáp ứng mục tiêu đã đề ra của giáo dục.
Chẳng hạn mục tiêu giáo dục đại học toàn diện có thể: Phẩm chất đạo đức, lý tưởng, tri thức (trình độ chuyên môn, xã hội, ngoại ngữ, tin học.), kỹ năng sống và khả năng cập nhập thông tin, giao tiếp, hợp tác; khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm cho bản thân và người khác; năng lực thích ứng với những thay đổi của công nghệ.Hoặc mục tiêu giáo dục là nhằm đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện từ tri thức, đạo đức, sức khỏe.Có thể thấy, việc nâng cao chất lượng học tập là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để có thể đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Như vậy, từ hai khái niệm về “Chuyển đổi số” và “Chất lượng học tập” chúng ta có thể thấy rằng giữa việc chuyển đổi số và nâng cao chất lượng học tập có mối liên hệ hỗ trợ là thúc đẩy lẫn nhau. Để đảm bảo rằng chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục được diễn ra một cách nhanh, toàn diện và đạt được nhiều thành tựu chúng ta không chỉ nhờ vào Khoa học - Công nghệ mà yếu tố tiên quyết nhất là con người. Để con người có trí tuệ, có năng lực lãnh đạo và điều hành được công nghệ, thiết bị thì mọi người cần nâng cao năng lực, chất lượng học tập của bản thân mỗi chúng ta khi còn là học sinh, sinh viên.
Vai trò của chuyển đổi số chất lượng học tập Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Theo đó, ngành Giáo dục là lĩnh vực được ưu tiên chuyển đổi số thứ hai sau lĩnh vực Y tế. Điều đó chúng ta có thể thấy được chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng, không chỉ đối với sự phát triển của ngành mà còn tác động rất lớn đối với sự phát triển và hội nhập của đất nước. Là trung tâm sáng tạo và truyền tải kiến thức, kỷ nguyên số đòi hỏi giáo dục đại học cung cấp ra thị trường những lực lượng lao động có tay nghề cao, có kỹ năng công nghệ hiện đại.
Nếu như trong các mô hình giáo dục truyền thống trước đây, hai nhiệm vụ cơ bản của các trường đại học là đào tạo và nghiên cứu khoa 13 học, thì theo tác giả Compagnucci và Spigarelli (2020), “ở mô hình đại học trong kỷ nguyên số ở thời đại 4.0 đang là bước chuyển mình về chất đối với các trường đại học, nhằm thực hiện được thêm một nhiệm vụ nữa của giáo dục đại học hiện đại, là tham gia vào việc đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước”. Để đáp ứng được thêm yêu cầu thứ ba này, các trường phải thực hiện hóa chương trình giảng dạy, không những chỉ là về kiến thức, mà bao gồm cả các phương thức đào tạo mới, để tăng tốc độ giảng dạy và học kỹ thuật số. Tác động của chuyển đổi số đến chất lượng học tập của sinh viên 1. Tác động tích cực của chuyển đổi số đến chất lượng học tập của sinh viên Qua việc nghiên cứu về tác động của chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục, nhóm em nhận thấy chuyển đổi số là một xu thế tất yếu trong thời đại công nghệ 4.0 và có tác động tích cực rất lớn đến giáo dục: Thứ nhất, giúp nâng cao chất lượng giáo dục: Ngày nay, các thành tựu công nghệ như IoT (Internet Of Things - Internet) giúp nâng cao tăng cường quản lý, giám sát trong các cơ sở giáo dục, theo dõi hành vi của người học, Công nghệ Big data (dữ liệu lớn) sẽ giúp phân tích hành vi học tập của người học để hỗ trợ, tư vấn phù hợp, hay Blockchain sẽ giúp xây dựng hệ thống quản lý thông tin và hồ sơ giáo dục của người học, cho phép hợp nhất, quản lý và chia sẻ dữ liệu từ nhiều trường học khác nhau, giúp ghi chép lại quá trình học tập, những bảng điểm của người học để đảm bảo thông tin dữ liệu được đồng nhất, một cách chính xác và minh bạch nhất.
Thứ hai, tăng tính tương tác, tính thực hành - ứng dụng: Ứng dụng thực tế ảo (Virtual Reality - VR), thực tế tăng cường (Augmented Reality - AR) trong giáo dục để tạo nên các phòng thí nghiệm ảo, mô hình thực tế ảo có khả năng tương tác thích hợp với người dùng, hay các cuốn sách AR (Augmented Reality), phần mềm Blippar dạy khoa học vũ trụ… giúp cho người học có những trải nghiệm đa giác 14 quan hơn, dễ hiểu, dễ nhớ và gây tò mò, hứng thú cho người học, đồng thời tăng tính tương tác, thực hành và có thể ứng dụng kiến thức đã học ngay trong thực tiễn lớp học. Thứ ba, tạo không gian và thời gian học linh động, thúc đẩy giáo dục mở - bình đẳng – cá thể hóa: Thời gian gần đây, khóa học trực tuyến đại chúng mở (MOOC) và bùng nổ với các tên tuổi lớn trên thế giới như: Udacity, Coursera, edX, Udemy, FutureLearn.tạo ra rất nhiều điều kiện cho người học được tiếp thu kiến thức một cách linh động và thuận tiện mọi lúc, mọi nơi thông qua Internet. Điều này thúc đẩy cho một nền giáo dục mở, giúp mọi người tiếp cận thông tin đa chiều, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian, chi phí, từ đó phát triển nhanh về kiến thức, nhận thức và tư duy của mỗi chúng ta các kiến thức tiếp thu dễ dàng và thuận tiện hơn, giúp nề gaiso dục nước ta phát triển. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học và người dạy kết nối với vô vàn kiến thức chất lượng và hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào.
Tài nguyên học liệu mở và kiến thức lớn là một xu hướng giúp phát triển mạnh trong nền giáo dục.