Luận án ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập

Luận án khám phá ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập, nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục.

Chuyên ngành

Quản trị Kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

203
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI

1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.3. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.4. KHÁI QUÁT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP

2.1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN

2.2. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP

2.3. YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP

2.4. YẾU TỐ ĐẢM BẢO CHO HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP

2.5. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP

2.6. KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM

3.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ HẠ TẦNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM

3.2. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM

3.3. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ĐẢM BẢO HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP

3.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM

3.5. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP

4.1. QUAN ĐIỂM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐHNCL VIỆT NAM

4.2. GIẢI PHÁP CƠ BẢN TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP VIỆT NAM

4.3. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục

Trong bối cảnh hiện đại, công nghệ thông tin trong giáo dục đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng quản lý tại các trường đại học ngoài công lập. Việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình quản lý mà còn tạo ra môi trường học tập hiện đại, hiệu quả hơn cho sinh viên. Theo UNESCO, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản và toàn diện. Điều này đặc biệt quan trọng trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt.

1.1. Khái niệm và vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục

Công nghệ thông tin (CNTT) được hiểu là việc sử dụng các công cụ công nghệ để thu thập, lưu trữ, xử lý và truyền tải thông tin. Trong giáo dục, CNTT đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện quy trình giảng dạy và học tập. Việc áp dụng CNTT giúp các trường đại học ngoài công lập quản lý thông tin sinh viên, giảng viên và tài liệu học tập một cách hiệu quả hơn.

1.2. Lợi ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý

Việc ứng dụng CNTT trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập mang lại nhiều lợi ích. Đầu tiên, nó giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc quản lý thông tin. Thứ hai, CNTT tạo ra một hệ thống quản lý thông tin đồng bộ, giúp các cán bộ quản lý dễ dàng theo dõi và đánh giá hoạt động của trường. Cuối cùng, việc ứng dụng CNTT còn nâng cao trải nghiệm học tập của sinh viên thông qua các nền tảng học trực tuyến.

II. Thách thức trong việc ứng dụng công nghệ thông tin tại các trường đại học ngoài công lập

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập cũng gặp phải không ít thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng công nghệ. Nhiều trường vẫn chưa đầu tư đủ vào hệ thống CNTT, dẫn đến việc không thể triển khai các giải pháp công nghệ một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, nhận thức của cán bộ quản lý và giảng viên về vai trò của CNTT trong giáo dục cũng còn hạn chế.

2.1. Thiếu hụt cơ sở hạ tầng công nghệ

Nhiều trường đại học ngoài công lập chưa có đủ cơ sở hạ tầng công nghệ để hỗ trợ việc ứng dụng CNTT. Điều này bao gồm việc thiếu các thiết bị máy tính, phần mềm quản lý và kết nối internet ổn định. Thiếu hụt này gây khó khăn trong việc triển khai các giải pháp công nghệ mới.

2.2. Nhận thức hạn chế về vai trò của công nghệ thông tin

Một số cán bộ quản lý và giảng viên vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của CNTT trong quản lý giáo dục. Điều này dẫn đến việc không tích cực tham gia vào các khóa đào tạo về CNTT, từ đó ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý.

III. Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập

Để khắc phục những thách thức nêu trên, các trường đại học ngoài công lập cần áp dụng một số phương pháp cụ thể trong việc ứng dụng công nghệ thông tin. Việc xây dựng một kế hoạch chi tiết và đồng bộ cho việc triển khai CNTT là rất cần thiết. Các trường cũng cần đầu tư vào đào tạo nhân lực để nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT cho cán bộ quản lý và giảng viên.

3.1. Xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin

Các trường cần xây dựng một kế hoạch chi tiết cho việc ứng dụng CNTT trong quản lý. Kế hoạch này nên bao gồm các mục tiêu cụ thể, thời gian thực hiện và nguồn lực cần thiết. Việc có một kế hoạch rõ ràng sẽ giúp các trường dễ dàng theo dõi tiến độ và đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng CNTT.

3.2. Đào tạo nhân lực về công nghệ thông tin

Đào tạo nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc ứng dụng CNTT. Các trường cần tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ quản lý và giảng viên về cách sử dụng các phần mềm quản lý, cũng như các công cụ công nghệ khác. Việc nâng cao kỹ năng CNTT cho nhân viên sẽ giúp họ tự tin hơn trong việc áp dụng công nghệ vào công tác quản lý.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về công nghệ thông tin trong quản lý

Nhiều trường đại học ngoài công lập đã bắt đầu ứng dụng CNTT trong quản lý và đã đạt được những kết quả tích cực. Việc triển khai các phần mềm quản lý đã giúp các trường tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao chất lượng quản lý. Các nghiên cứu cho thấy rằng, những trường có ứng dụng CNTT hiệu quả thường có tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp cao hơn và sự hài lòng của sinh viên cũng tăng lên.

4.1. Kết quả từ việc triển khai phần mềm quản lý

Việc triển khai phần mềm quản lý tại các trường đại học ngoài công lập đã giúp cải thiện quy trình quản lý thông tin. Các trường có thể theo dõi và đánh giá hoạt động của sinh viên và giảng viên một cách hiệu quả hơn. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực hơn.

4.2. Tác động đến sự hài lòng của sinh viên

Nghiên cứu cho thấy rằng, khi các trường ứng dụng CNTT hiệu quả, sự hài lòng của sinh viên tăng lên rõ rệt. Sinh viên cảm thấy dễ dàng hơn trong việc truy cập thông tin học tập và quản lý thời gian học tập của mình. Điều này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tạo ra một môi trường học tập tích cực.

V. Kết luận và tương lai của ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập là một xu thế tất yếu trong bối cảnh hiện đại. Các trường cần tiếp tục đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân lực để nâng cao hiệu quả quản lý. Tương lai của giáo dục đại học sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng ứng dụng CNTT, và những trường nào không theo kịp xu thế này sẽ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh.

5.1. Tầm quan trọng của việc đầu tư vào công nghệ

Đầu tư vào công nghệ là một yếu tố quyết định trong việc nâng cao chất lượng quản lý tại các trường đại học ngoài công lập. Các trường cần xác định rõ các lĩnh vực cần đầu tư và xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai.

5.2. Dự báo về tương lai của công nghệ thông tin trong giáo dục

Tương lai của công nghệ thông tin trong giáo dục sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Các trường đại học ngoài công lập cần chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những thay đổi này, từ việc áp dụng các công nghệ mới đến việc cải thiện quy trình quản lý. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo ra một môi trường học tập hiện đại và hiệu quả.

14/08/2025
Luận án ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các trường đại học ngoài công lập

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Ứng dụng CNTT trong quản lý đại học đã được các nước phát tiển trên thế giới nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ trước. Họ cho rằng CNTT được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để giảng dạy cũng như quản lý trong giáo dục. Vì vậy, CNTT được nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ tại các nước phát triển khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và những nước thuộc châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia, Ấn Độ.

Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển như Pháp, Mỹ, Anh, Nhật Bản,. rất chú trọng về vấn đề ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nó là một trong những động lực chính thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Và nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lượng ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục đại học.

Đối với các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và đào tạo được thực hiện chưa đồng bộ. Các nước như Úc, Hàn Quốc và Singapore, Bộ Giáo dục của họ đã hình thành một quốc gia CNTT trong chính sách giáo dục với sự đầu tư rất quy mô về tài chính. Với mục tiêu tích hợp CNTT vào quá trình quản lý nhằm xây dựng trường học thông minh. Đối với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Malaysia, Philippines, Ấn Độ.

chính sách phát triển CNTT trong giáo dục được liên kết với chính sách và kế hoạch tổng thể về CNTT của quốc gia. (1) Tại Singapore năm 1981, đã thông qua đạo luật về tin học hóa quốc gia quy định ba nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ dạy tin học ở trường phổ thông; ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trường học. 8 (2) Năm 1989, tại Philippin chiến lược phát triển CNTT quốc gia đã được ông bố. Bản chiến lược xác định: công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước và học tin học, ứng dụng CNTT trong quản lý và giảng dạy.

(3) Ở Đài Loan Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT đã được công bố năm 1980. Hay ở Australia, năm 2000 hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “cơ cấu phát triển thúc đẩy ứng dụng CNTT, quản lý ứng dụng CNTT”. (4) Năm 2009, tại Hội nghị Á - Âu về học tập suốt đời tổ chức tại Nha Trang, Việt Nam đã thống nhất phối hợp nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho mọi người. Năm 2010 diễn đàn về học tập suốt đời tổ chức tại Hà Nội, các đại biểu đến từ Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.

cũng đã có nhiều báo cáo ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục. Ngày nay, vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục và đào tạo đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm. Tại hội nghị Bộ trưởng các nước Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) đã đề cập đến "Giáo dục không biên giới" mà vai trò của CNTT là khâu then chốt. Ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục sẽ hỗ trợ đắc lực cho những cán bộ quản lý.

(5) Năm 1991, VeronicaMc Givney và Frances Murray đã đề ra các biện pháp tiến hành trong quá trình DH nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HV lớn tuổi bao gồm: biên soạn và cấu trúc nội dung tài liệu học phù hợp, cung cấp tài liệu tra cứu, tăng cường các TBDH hiện đại kết hợp với việc thiết kế các TBDH đơn giản rẻ tiền ở địa phương, tăng cường tự học ở trên lớp và ở nhà.Tinnio năm 2003 đã viết cuốn sách “Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục” [164]. Cuốn sách này được trình bày trong dung lượng 49 trang và chia làm 5 phần khác nhau, trong đó: 9 Phần 1: Định nghĩa thuật ngữ Phần 2: Triển vọng của ICT đối với giáo dục Phần 3: Sử dụng ICT trong giáo dục Phần 4: Những vấn đề về sử dụng ICT trong giáo dục Phần 5: Những thách thức trong việc lồng ghép ICT vào giáo dục. Với cách trình bày khoa học, lô gic dựa trên 5 phần trên, công trình đã các Khái quát rõ nét trên các khía cạnh: Thứ nhất, những ích lợi tiềm năng của việc sử dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục và các cách ứng dụng CNTT và truyền thông khác nhau đã được sử dụng trong giáo dục từ trước đến nay. Thứ hai, đặt ra bốn vấn đề cơ bản trong việc sử dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục là tính hiệu quả, chi phí, sự hợp lý và tính ổn định.

Thứ ba, những thách thức quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển cần lưu ý khi đưa ra các quyết định về việc ứng dụng CNTT và truyền thông vào giáo dục, đó là các vấn đề chính sách, quy hoạch giáo dục, cơ sở hạ tầng, quy mô xây dựng, ngôn ngữ, nội dung, và vốn cấp [164]. (7) Jeannette Vos - Gorden Dryden (2004), trong cuốn Cách mạng học tập những yếu tố và phương pháp để học tập tốt có nói đến vai trò mới của những phương tiện liên lạc điện tử: “Chính sự kết hợp Internet, máy tính và cách mạng trang Web, thế giới đang được định hình lại toàn bộ thế hệ, thậm chí còn mạnh mẽ hơn so với trước đây khi báo chí, in ấn, radio và TV đã tạo ra”. Tác giả còn đề cập đến vai trò của máy vi tính đối với GV và NH: “Máy vi tính với công nghệ tiên tiến cao có khả năng phục vụ những người thầy phụ đạo và như những thư viện, cung cấp thông tin và ý kiến phản hồi nhanh chóng cho từng người học”[163]. Có thể nói, cuốn sách Cách mạng học tập những yếu tố và phương pháp để học tập tốt đã được hai tác giả nổi tiếng (Jeannette Vos và Gorden Dryden) 10 đưa ra thông điệp: Chúng ta cần có một cuộc cách mạng về học tập để tương xứng với cuộc cách mạng tri thức.

(8) Nghiên cứu việc ứng dụng CNTT đảm bảo phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục, cũng như đặc thù ở một quốc gia nhất định, nhóm 3 tác giả Sharmela Devi, Mohammad Ziwaan, Shubash Chander trong bài viết “Information and communication technology for quality education in India - Công nghệ thông tin và truyền thông cho chất lượng giáo dục ở Ấn Độ” [159] đã nhấn mạnh việc ứng dụng CNTT và truyền thông trực tiếp nâng cao chất lượng giáo dục chính quy và không chính quy; trong phát triển nội dung giáo dục, quản lý giáo dục. Các tác giả khẳng định: “CNTT và truyền thông là một trong những thành phần không thể thiếu ở xã hội đương đại trong tất cả các cấp học ở Ấn Độ. Tiếp cận CNTT và truyền thông trong giai đoạn đầu của nền giáo dục sẽ giúp cho thế hệ trẻ đối diện với những gì ở phía trước” [159, tr. Chỉ ra mối quan hệ giữa CNTT với giáo dục, tác giả Seyling Wen (có công trình “Công nghệ thông tin và nền giáo dục trong tương lai” [100].

Trong công trình này, tác giả đã khẳng định rằng nhận thức việc đổi mới giáo dục không còn là một khẩu hiệu, mà là những hành động cụ thể. Hiên nay cả thể giới đã đi vào cuộc cải cách giáo dục với mục tiêu là giáo dục trở thành nền tảng căn bản nhất trong thế kỷ 21. Đặc biệt, trong thế kỷ này, CNTT và truyền thông đã tạo ra sự biến đổi xã hội một cách sâu sắc, toàn diện thì giáo dục không thể nằm ngoài sử tác động của nó. CNTT và truyền thông đã làm thay đổi mạnh mẽ cách thức dạy, học và quản lý.

Vì vậy, mọi tổ chức cá nhân giáo dục có thể chọn cách thức hiệu quả nhất đối với công việc cụ thể [100]. Đề cập trực tiếp đến vai trò của CNTT và truyền thông đối với giáo dục hiện nay, tác giả Sukanta Sarkar thuộc Khoa quản lý Trường Đại học ICFAL của Ấn Độ trong bài viết “The Role of Information and Communication Technology (ICT) in Higher Education for the 21 st- Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục đại học của thế kỷ 11 21” [161] cho rằng CNTT và truyền thông đã tác động vào thực tiễn giáo dục, góp phần tăng trưởng đáng kể cho các hoạt động giáo dục đại học.Và vấn đề dạy học trực tuyến đã phát triển phổ biến và được thực hiện mạnh mẽ thông qua hệ thống CNTT. Công cụ này đã giúp cho sinh viên gặp bớt được nhiều khó khăn để đến trường do: Việc làm, trách nhiệm gia đình, vấn đề sức khỏe, về thời gian, thì giáo dục trực tuyến là lựa chọn duy nhất cho họ. Hệ thống đào tạo trực tuyến này đã thành công trong một số trường ở Ẩn Độ và các trường đại học ở các nước khác như: Đại học Phoenix, Đại học Athabasca (Canada), Đại học Harvard và Đại học Toronto.

Tác giả Sukanta Sarkar nhận thấy, trong những vấn đề phát triển tiềm năng giáo dục, UNESCO đã đóng một vai trò quan trọng, tiên phong đưa ra sáng kiến để triển khai, tận dụng tiềm năng của CNTT. Tại hội nghị Dakar về chương trình Giáo dục cho tất cả mọi người do UNESCO tổ chức; Sukanta Sarkar (2007) đã phát biểu xem việc tích hợp CNTT trong giảng dạy và học tập là vấn đề quan trọng trong đổi mới giáo dục đại học, đồng thời xem CNTT như là công cụ không thể thiếu trong xã hội tri thức; và nó phải được xem như là "Một khía cạnh thiết yếu của bộ công cụ văn hóa giảng dạy trong thế kỷ XXI”. Đồng thời, tác giả lưu ý về bốn vấn đề khi đưa CNTT vào hoạt động giảng dạy: Một là, sử dụng công nghệ cần phải xem xét nhu cầu của người học và vấn đề nội dung; Hai là, không áp đặt hệ thống công nghệ từ trên xuống dưới mà phải thông qua người dạy và người học; Ba là, áp dụng nội dung từ các khu vực, quốc gia khác phải tùy cơ ứng biến cho phù hợp với thực trạng; Bốn là, xây dựng nội dung, thiết kế bài giảng phải phù hợp với công nghệ sử dụng. Từ các vấn đề trên cho thấy, trong thực tiễn giáo dục, CNTT đã thể hiện vai trò mạnh mẽ trong mở rộng hoạt động đào tạo ở các nước trên thế giới; và nhờ ứng dụng mạnh mẽ ICT đã làm tăng trưởng hệ thống giáo dục đại học ở Ấn Độ[161].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ