Chương 1: Cơ sở lý luận về thích ứng, thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên; Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn; Kết luận; Kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG, THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề thích ứng và thích ứng với hoạt động học tập Đến nay, vấn đề thích ứng và thích ứng với HĐHT là một trong những vấn đề hết sức quan trọng trong Tâm lý học (TLH) vì thế đã thu hút được sự quan tâm của các nhà TLH trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, nhiều khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau. Chúng tôi khái quát lại có các hướng sau: 1.
Nghiên cứu về thích ứng ở nƣớc ngoài Việc nghiên cứu về thích ứng có thể được chia thành ba hướng nghiên cứu chính như sau: 1. Hướng thứ nhất nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp Năm 2005, Các tác giả Peter Creed, Tracy Fallon, Michelle Hood thuộc trường ĐH Griffith Australia đã có công trình nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa thích ứng nghề và mối quan tâm về nghề trong giới trẻ”. Họ đã tiến hành nghiên cứu 245 SV năm thứ nhất về các mối quan tâm về nghề nghiệp, sự thích ứng nghề, xu hướng về nghề… Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Thích ứng nghề có mối quan hệ bên trong và có thể bị ảnh hưởng bởi những nhân tố đầu tiên (Kế hoạch xây dựng nghề, khám phá nghề, xu hướng nghề, sự quyết định nghề…). Những nhân tố thích ứng nghề có mối quan hệ nội hàm và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác [48].
Tác giả Rottinghaus, Day và Borgen năm 2005, trong một công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng nghề là xu hướng mà mỗi cá nhân đưa ra khả năng của bản thân để xây dựng và điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp của mình, đặc biệt là đối mặt với những tình huống không biết trước. Đề cập đến tiến trình, tầm quan trọng của mối quan hệ giao thoa giữa môi trường làm việc và năng lực của mỗi cá nhân, nhấn mạnh đến khả năng điều chỉnh và vấn đề mỗi cá nhân phải đối mặt, khả năng xoay sở với những vấn đề rắc rối về nghề nghiệp [dẫn theo 49, tr 3-24]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2008, trong cẩm nang Tâm lý học do Carwright & Cooper S.C biên soạn được ấn hành tại ĐH Oxford, Hesketh. B biên soạn chương: “Selection and training for work adjustment and adaptability” (Sự lựa chọn và đào tạo đối với thích ứng công việc).
Trong chương này, các tác giả đề cập đến việc lựa chọn và đào tạo nghề phải chú ý tới khả năng thích nghi của con người và yêu cầu của xã hội [47]. Khái quát những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy các tác giả đã đề cập đến khái niệm chung về thích ứng, thích ứng nghề của SV và người lao động. Các yếu tố chủ quan, khách quan và những chỉ số đặc trưng cho thích ứng nghề nhiệp. Nhìn chung các tác giả đều cho rằng thích ứng nghề nghiệp là quá trình nhận thức và hành động, từ đó nảy sinh tình cảm đối với nghề.
Còn thiếu các công trình nghiên cứu cụ thể về mức độ thích ứng với HĐHT của SV. Hướng thứ hai nghiên cứu thích ứng với môi trường văn hóa mới, thích ứng xã hội Có thể nói nghiên cứu thích ứng văn hóa chiếm một mảng lớn trong hệ thống các nghiên cứu về thích ứng. Điều này xuất phát từ thực tiễn xã hội sau chiến tranh thế giới thứ hai là sự di cư của con người. Cùng với sự di chuyển dân cư đến một môi trường mới là hàng loạt các vấn đề xã hội lẫn vấn đề tâm lý cá nhân nảy sinh do thiếu thích ứng văn hóa.
Những nghiên cứu này được thực hiện với nhiều nội dung khác nhau, với những nhóm dân cư khác nhau. Một số nhà tâm lý học khác hướng sự chú ý vào vấn đề sức khỏe tinh thần khi con người chuyển sang môi trường xã hội mới, nền văn hóa mới. Năm 1999, Chritabel Zhang trong đề tài “Valuing cultural diversty in student learning: the academic adjustment experiences of international Chinese student” (Đánh giá sự đa dạng văn hóa trong hoạt động học của sinh viên: Sự thích ứng học tập của sinh viên Trung Quốc ở nước ngoài) đã nghiên cứu sự thích ứng học tập của SV Trung Quốc đang du học tại Australia chỉ ra rằng những yếu tố chính ảnh hưởng tới sự thích ứng với môi trường văn hóa mới ở nước ngoài khi tham gia học tập là ngôn ngữ, phương pháp dạy học, văn hóa bản địa, bản chất mối 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ tương tác giữa người học với người học khi xây dựng nền tảng cho bậc học cao hơn [51]. Kết luận trên có ý nghĩa khoa học giúp các nhà quản lý giáo dục tổ chức tốt các lớp học có nhiều thành phần học sinh thuộc nhiều quốc gia, nền văn hóa dân tộc.
Năm 2002, “Acadmic incident reports since summer 2002 worldwide & country statistical report” (Các báo cáo về khó khăn trong học tập dựa trên báo cáo thống kê trong nước và trên thế giới mùa hè năm 2002) của trường ĐH Mexico Stale cho thấy 169 SV của trường đã từng theo học các chương trình hội nhập tại nước ngoài đều đã từng gặp các vấn đề khó khăn trong thích ứng học tập ở nước ngoài. Những khó khăn đó là môi trường văn hóa – xã hội mới ở nước ngoài, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của SV, chương trình giáo dục khác biệt, thời khóa biểu không phù hợp và việc đăng kí thi cử, việc tổ chức khóa học, việc đánh giá học tập, phương pháp giảng dạy của GV [44]. Những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khác nhau của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang một môi trường văn hóa mới với những chuẩn mực mới và việc không thích ứng với nó sẽ gây ra những khó khăn nhất định trong đời sống và các hoạt động của con người. Arbona, Consuelo, Bullington, Robin, Pisseco, Stewart, Poyrazly, Senel nghiên cứu “Adjustment issues of Turkish College students studying in the United States” (Các vấn đề thích ứng của SV Thổ Nhĩ Kì du học tại Mỹ) trên 79 SV Thổ Nhĩ Kì đang học tập tại Mỹ về sự thích ứng với môi trường văn hóa, hoạt động học tập và cuộc sống tại trường.
Các tác giả kết luận: Những SV sử dụng tiếng Anh tốt hơn thì thích ứng tốt hơn, SV nhận học bổng của chính phủ Thổ Nhĩ Kì thích ứng tốt hơn SV không có học bổng của chính phủ trong HĐHT, trong cuộc sống và môi trường văn hóa tại trường [45]. Như vậy, những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khác nhau của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang một môi trường văn hóa mới với những chuẩn mực mới. Những nghiên cứu về thích ứng trên đã thoát khỏi ảnh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hưởng của lý luận thích nghi sinh học, chỉ ra được bản chất hoạt động, nền văn hóa - xã hội, tác động đến sự thích ứng của con người. Hướng nghiên cứu thứ ba thích ứng với hoạt động học tập Năm 1990, B.
Allen (Mỹ) ở ĐH Tổng hợp California (Mỹ) đã tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của SV thông qua hệ thống tác động hình thành các kỹ năng học tập ở trường ĐH. Theo tác giả, điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của SV là hình thành ở họ các nhóm kỹ năng: 1/Kỹ năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân; 2/ Kỹ năng hình thành các HĐHT và các phẩm chất khác (như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập); 3/Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực để vượt qua khó khăn trong học tập, thi cử; 4/ Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính nghề nghiệp. Theo cách hiểu này, sự thích ứng (không thích ứng) của SV được giải thích là do SV có (hay thiếu) một số kỹ năng nào đó, mà ít chú ý đến khía cạnh tổ chức trong hệ thống giáo dục của nhà trường ĐH [46].Zettergren ở khoa Tâm lý học, Trường Đại học Stockholm, Thụy Điển nghiên cứu trẻ vị thành niên 10 – 11 tuổi, thấy rằng: Thành tích học tập và mức độ trí thông minh của những trẻ em bị bạn bè hắt hủi là kém hơn so với những nhóm khác. Điểm số của những em được bạn bè yêu quý, thích ứng đạt điểm cao hơn so với nhóm trẻ khác.
Có dấu hiệu những HS nữ bị bạn bè ghét bỏ có thái độ tiêu cực với trường học và các nhiệm vụ của trường. Tỉ lệ bỏ học giữa chừng ở HS nam bị ghét bỏ cao hơn nhiều các nhóm HS nam khác. Những trẻ bị bạn bè hắt hủi là những em có thể gây rắc rối ở trường khi lớn lên, vì vậy cần quan tâm đặc biệt tới những em này [50, tr207-221]. Như vậy, vấn đề thích ứng với HĐHT đã được các nhà tâm lý học nước ngoài quan tâm nghiên cứu, các công trình này đã góp phần khái quát và xây dựng những nét cơ bản nhất về vấn đề thích ứng với HĐHT.
Các nghiên cứu trên cũng chỉ ra có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với HĐHT của SV. Mỗi nghiên cứu đều nêu một đến hai yếu tố ảnh hưởng cùng với sự phân tích sâu sắc những ảnh hưởng của các yếu tố đó trên những trường hợp cụ thể. Đây chính là những đóng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góp rất lớn để các nhà giáo dục và bản thân người học rút ra những cách thức góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Nghiên cứu về thích ứng ở Việt Nam Ở nước ta vấn đề thích ứng trong TLH luôn được quan tâm nghiên cứu trên các nhóm khách thể khác nhau.
Do vậy, những nghiên cứu về thích ứng trong các lĩnh vực rất đa dạng và phong phú như: thích ứng nghề nghiệp, thích ứng với HĐHT của SV, HS phổ thông, HS tiểu học và gần đây đã có một số nghiên cứu về thích ứng với đào tạo tín chỉ của SV. Chúng tôi có thể phân thành các nhóm nghiên cứu sau: 1. Hướng thứ nhất nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp Các công trình nghiên cứu theo hướng này thường tập trung vào khía cạnh thích ứng tâm lý đối với một nghề nghiệp của những SV hoặc GV mới ra trường bắt đầu bước vào nghề hoặc sự thích ứng với một quy trình sản xuất mới.