CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THẺ HIỆN BẢN THÂN TRÊN MẠNG XÃ HỌI CỦA. Tông quan các công trình nghiên cứu về thể hiện bản thân trên mạng. xã hội của sinh viên 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài.
_ Tình hình nghiên cứu thể hiện bản thân nói chung Nghiên cứu về thể hiện bản thân bắt đầu tử khoảng đầu thế ký 20 với các nhà tâm lý học xã hội nh Erving Goffman va Edward Jones. Goffman xem thể hiện bản thân như một màn trình diễn trên sân khấu, nơi cá nhân đóng vai trỏ và cổ gắng tạo ấn tượng nhất định với người khác (Goffman, 1959). Jones tập trung vào việc cá nhân điều chỉnh hành vi của họ để phù hợp với các tình huỗng xã hội khác nhau (Jones và cộng sự, 1982) Còn với Leary vào năm 1990 xem thể hiện bản thân là quá trình mà một cá nhân truyền đạt thông tỉn về bản thân cho người khác. Quá trình này có thể diễn ra một cách có ý thức hoặc vô thức, thông qua lời nói, hành vi, ngôn ngữ cơ thể, ngoại hình và nhiều kênh khác nhau (Leary và cộng sự, 1990).
Nhiều lý thuyết đã được phát triển để giải thích hành vi thể hiện bản thân như: Lý thuyết quản lý ấn tượng (Jones và cộng sự. 1982) cho rằng cá nhân cổ gắng kiểm soát cách người khác nhìn nhận họ; Lý thuyết tự trình bày (Snyder, 1987) thẻ hiện cá nhân thể hiện bản thân để thể hiện bản sắc và giá trị của họ; Lý thuyết tự khăng định (week, à tự ủn của họ. Lý thuyết thể hiện bản thân tập trung vào việc con người điều chỉnh thái độ của họ như thế nào khi ở nơi đông người so với khi ở một mình. Thay vì chỉ đơn giản nói những điều "hay ho" để gây ấn tượng với người khác, lý thuyết nảy đề cập đến những thay đổi thực sự bên trong con người (Baumeister & Tice, 1984; Cooper & Fazio, 1984: Schlenker, 1980; Tetlock & Manstead, 1985).
Nghiên cứu về thẻ hiện bản thân đã chứng mình, bối cánh tương tác giữa các cá nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những quá trình nội tâm của con người. Các tác gid đã chỉ ra, chúng ta thực hiện nhiều hoạt động nhận thức và cảm xúc bên trong đề thẻ hiện hình ảnh mong muỗn về bản thân (Sehlenker & Leary, 1982; Vohs, Baumeister, & Ciarocco, 2005). Tuy nhiên, điểu này không phủ nhận sự tổn tại của những thay đổi nội tâm thực sự. Thay vảo đó, lý thuyết thể hiện bản thân cho rằng nội tâm vả các tương tác giữa cá nhân có mỗi liên hệ mật thiết với nhau.
Vì vậy, các quá trình nội tâm phục vụ cho các chức năng liên cá nhân. Vì thể, chúng ta thấy rằng lý thuyết thẻ hiện bản thân tập trung vào việc con người thay đổi thái độ trong môi trường công cộng. Bản thân mỗi cá nhân sẽ điều chính hảnh và suy nghĩ để thể hiện hình ảnh mong muốn vẻ bản thân. Nội tâm và các tương tác giữa cá nhân có mỗi liên hệ mật thiết, dẫn đến việc các quá trình nội tâm phục vụ cho các chức năng liên cá nhân trong quá trình tương tác xã hội.
‘Theo Finkel va Baumeister (2010) lĩnh vực nghiên cứu sự thẻ hiện bản thân đã gặp phải một bước thụt lùi do những thành tựu của chính nó, vì các nhà tâm lý học xã hội đã chỉ ra rằng các hành vi mà họ nghiên cứu có xu hướng khác nhau tùy theo bối cảnh săn: cộng và riêng tư. Trọng tâm nghiên cứu hiện nay đã chuyển khỏi khái niệm ân, tậi èu hơn vào việc điều tình nhậ thức, tác động sinh học đếnbàn vịvị và thành kiến. Mặc dù các khái niệm và phương pháp nghiên cứu của lý thuyết thể hiện bản thân vẫn còn hiệu lực nhưng hiện tại có rắt ít nghiên cứu đang diễn ra để phát triển thêm lý thuyết này. “Tóm lại, lý thuyết thể hiện bản thân cho thấy đây là một điều quan trọng cho việc hiểu cách con người điều chỉnh thái độ và hảnh vi trong các tương tác xã hội.
Điễu này, chịu ảnh hưởng của bối cảnh biểu thị khi chúng ta thay đổi thái độ và hành vi tùy thuộc vảo môi trường công cộng hay riêng tư. nó cỏn thể hiện vai trò của nội tâm điều chỉnh suy nghĩ và cảm xúc để thể hiện hình ảnh mong muốn vẻ bản thân. Và mi liên hệ giữa nội tâm và tương tác xã hội khi các tương tác cá nhân ảnh hưởng lẫn nhau, dẫn đến việc các quá trình nội tâm phục vụ cho các chức năng liên cá nhân. Mặc dù lý thuyết thể hiện bản thân đã có nhiễu thành tựu, lĩnh vực nghiên cứu này đang gặp.
phải một số thách thức Thể hiện rõ sự khác biệt giữa bỗi cảnh công cộng vả riêng tư. Những hành vi của con người có thể thay đổi tủy theo môi trường, khiến cho việc áp dụng lý thuyết này gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, hiện nay còn ít các công bố về thể hiện bản thân. Tuy nhiên, các khái niệm và phương pháp nghiên cứu của lý thuyết thé hiện bán thân vẫn còn giá trị và có thể được áp dụng vào nhiễu lĩnh vực khác nhau.
Nhìn chung, lý thuyết thể hiện bản thân là một nên tảng quan trọng để hiểu cách con người tương tác với nhau trong xã hội. Mặc dù còn nhiều thách thức, lý thuyết này vẫn đóng vai trò. Nghiên cứu về thể hiện bản thân trên mạng xã hội Thế kỷ 21 được xem là thời kỳ của công nghệ, kỳ thuật số và điều đó đã tác động cùng như thay đổi lỗi sông, cách hành xử của con người so với thể kỷ trước. Do đó, đã đặt ra thách thức đổi với các nhà nghiên cứu quan tâm đến khái niệm thể hiện bán thân trong tình hudng một người cỏ đởi thực phải tương tác trực tiếp và cuộc đời áo trên mạng mà ở đó mọi người đều giao tiếp gián tiếp qua một “màng lọc”.
Ngoài việc góp phần vào việc kết nổi, mạng xã hội còn mang đến nhiều cơ hội để phản hỗi về việc thế hiện bản thân của người tham gia. Trên mạng xã hội, phản hồi thường ở đạng các icon cảm xúc, bình luận và chia sẻ, chẳng hạn như nội dung của chúng ta được người khác chia sẻ. Mặc dù phản hỏi trực tiếp thường mơ hỗ và dễ giải thích, nhưng phản hồi trên mạng xã hội thường đại điện cho các chỉ số định lượng về thành công xã hội của một người (Finh và cộng sự. 2019) có thé so sánh trực tiếp với thành công của người khác.
DẺ gợi ra phản hồi có lợi hơn, mọi người có thể tham gia vào việc tự thể hiện một cách chiến lược, chẳng hạn như chỉnh sửa ảnh hoặc xóa nội dung không nhận được số lượt thích như mong muốn (Nesi & Prinstein, 2018). Việc thể hiện bản thân trên mạng xã hội, được thúc đẩy bởi việc nhận được phản hỗi tích cực. được gọi là tim kiếm phản hồi hoặc tìm kiểm địa vị, có liên quan đến các kết quả tiêu cực như các triệu chứng trim cam (Nesi & Prinstein, 2015), mize độ hài lòng của cơ thể thấp hơn vả sức khỏe kém hơn (Jarman vả cộng sự. Việc tìm kiếm phản hồi cùng có thể ảnh hưởng đến việc một số người thể hiện bản thân trên mạng xã hội theo cách không phù hợp với tính cách hoặc ngoại hình của họ ngoại tuyến.
Việc thể hiện bản thân không trung thực trên mạng xã hội có liên quan đến mức độ lo lắng xã hội tăng cao và lòng tự trọng thấp hon (Twomey và cộng sự, 2017). Mặc dù không nhất thiết phải sử dụng đến cách thể hiện bản thân không chân thực, nhưng mọi người cỏ xu hướng nhẫn mạnh những đặc điểm mong muốn trên mạng xã hội (Reinecke và cộng sự, 2014), dẫn đến việc mạng xã hội bj chi phối bởi những cách thẻ hiện lên một cách lý tướng hóa và phí thực tế về cuộc sống (như về yếu tổ ngoại hình) của mọi người (Nesi và cộng sự, 2020). Với sự tăng trưởng trong việc sử dụng các trang mạng xã hội , các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt giữa việc thể hiện bản thân trên mạng xã hội và ngoài thực tế. Một số nghiên cứu lập luận rằng các cá nhân thận trọng trong việc thể hiện bản thân của họ thông qua mạng xã hội (Grieve và cộng sự.
2020; 7 Okdie và cộng sy, 2011; Tosun, 2012; Yu & Kim, 2020). Những quyết định thể hiện bản thân có thể được thực hiện đễ dàng hơn thông qua những tiến bộ công nghệ của thể giới trực tuyến và các trang mạng xã hội (Nadkarni & Hoffman, 2012). Vi du: trong một nghiên cửu kiểm tra vẻ sự khác biệt về bản thân trên Facebook, người ta phát hiện ra rằng những thanh niên (18-25 tuổi) sẽ sử dụng các chiến lược cụ thê khi thể hiện không đúng sự thật về bản thân trên mạng (Zhao và cộng sự, 2008). trong khi các cá nhân có thế bỏ qua bole Lees aul một xố khíasaa nhất định của bản thân khi trực tuyến thì nghiê thể hiện bản thâu một cách nhất quán giữa ngoại tuyến và trực tuyến (Back và cộng sự, 2010; Fullwood và cộng sự, 2016; Gosling và cộng sự, 2011; Marriott & Buchanan, 2014; Strimbu & O'Connell, 2019; Wilson và cộng sự, 2012 ).
Tử đỏ, có thể thấy việc thể hiện bản thân trên mạng có hai khía cạnh là một phần mở rộng của bản thân hay thể hiện một cách. hoàn toàn khác. Một nghiên cứu theo chiều dọc cúa LitL và Hargittai (2016) cho thấy gần 50% trên tổng số 100 ngưởi dủng Facebook, Linkedin vả Twitter đã hinh dung ra một đối tượng cụ thể khi tạo tin nhắn. 70% số bài đăng này lả dành cho gia đình và bạn bè.
Họ đề xuất hai cách tiếp cận đề kiểm soát khán giả của mình: chiến thuật tiếp cận khán giả và giới hạn khán giả. Chiến lược tiếp cận đổi tượng nhằm mục đích thu hút đối tượng mục tiêu, trong khi chiến lược giới hạn đổi tượng sẽ loại trừ những cá nhân không được nhắm mục tiêu. Cân bằng các mục tiêu thể hiện bản thân trong các mạng lưới rộng lớn và đa dạng là một thách thức. Người tham được nhận thức sẽ đóng vai trỏ điều hòa tác động của mục tiêu thể hiện bản thân sao cho trong diều kiện mâu thuẫn mạng xã hội (context collapse) nội dung thể hiện bản thân sẽ được chọn lọc, tự kiểm duyệt và phân đoạn kỹ cảng hơn (Erin, 2021).