MỞ ĐẦU. 1 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .Cơ sở lý luận của đề tài. Cơ sở thực tiễn. 26 _Toc510876387Chƣơng 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ NGƢỜI CAO TUỔI VÀ LOẠI HÌNH TỔ CHỨC THAM GIA HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG ĐỒNG.
Đặc điểm chung của người cao tuổi tham gia nghiên cứu. Các loại hình tổ chức mà người cao tuổi tham gia. 44 Chƣơng 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NGƢỜI CAO TUỔI. Sự đánh giá của chính quyền.
Hoạt động của hội người cao tuổi. Những khó khăn của người cao tuổi khi tham gia các hoạt động xã hội. Sự hỗ trợ để người cao tuổi tham gia hoạt động xã hội. Sự tham gia các hoạt động xã hội của người cao tuổi.
71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC VIẾT TẮT CLB: Câu lạc bộ HĐXH: Hoạt động xã hội NCT: Người cao tuổi NN: Nhà nước Tp. HCM: Thành phố Hồ Chí Minh DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổiError! Bookmark not defin Bảng 3.1: Mối liên quan giữa sự đánh giá của địa phương với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi. Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về công tác xã hội với các hoạt động xã hội .3: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về giáo dục tri thức với các hoạt động xã hội.4: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về giáo dục đạo đức với các hoạt động xã hội .5: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về định hướng kinh tế với các hoạt động xã hội .6: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về hoạt động văn hóa với các hoạt động xã hội .7: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như không được tập huấn với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng đồng .8: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như tuổi cao sức yếu với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng đồng.9: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như cản trở từ gia đình với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng đồng .10: Sự hỗ trợ, động viên của người khác cho người cao tuổi khi tham gia hoạt động xã hội .11: Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của người khác với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi .12: Mối liên quan giữa hoạt động của hội Người cao tuổi về tổ chức sinh hoạt với mức độ hoạt động xã hội của người cao tuổi.13: Mối liên quan giữa hoạt động của hội Người cao tuổi về tổ chức khám sức khỏe với mức độ hoạt động xã hội của người cao tuổi .14: Mối liên hệ giữa mong muốn với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi .15: Cảm nhận của người cao tuổi với hoạt động của hội Người cao tuổi. 68 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Giới tính của NCT .2: Nhóm tuổi của NCT.3:Tuổi tham gia hoạt động cộng đồng .4:Trình độ học vấn của người cao tuổi .5: Nghề nghiệp trước 60 tuổi của NCT .6: Thu nhập hàng tháng của NCT .7:Nguồn thu nhập của người cao tuổi của NCT .8: Các loại hình tổ chức mà người cao tuổi tham gia .Tính cấp thiết của đề tài Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết, hiện nay thế giới có khoảng 901 triệu người cao tuổi (năm 2015), chiếm 12,3% dân số.
Số này sẽ tăng lên hơn 2 tỷ người vào năm 2050, chiếm 22% dân số thế giới. Trung bình cứ một giây có 2 người bước vào tuổi 60, tức mỗi năm thế giới có thêm khoảng 58 triệu người 60+ tuổi. Trung bình cứ 9 người sẽ có một người 60+ tuổi và tỉ lệ này sẽ là 5/1 vào năm 2050. Ngày 14 tháng 12 năm 1990 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc lấy ngày 01 tháng 10 hàng năm làm ngày Quốc tế NCT, được ghi trong Nghị quyết 45/106.
Đây là mốc son thể hiện quan điểm của thế giới về NCT. Ngày quốc tế NCT đầu tiên được tiến hành ngày 1-10- 1991 nhằm nâng cao nhận thức, đánh giá cao những đóng góp NCT là tâm điểm của Chương trình Liên hiệp Quốc về NCT và các tổ chức bảo vệ NCT. Năm 1991, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đề ra chương trình hành động về NCT trong mười năm 1992 - 2001. Nghị quyết nêu “Những nguyên tắc về đạo lí của Liên Hợp Quốc đối với NCT” làm cơ sở cho các chương trình quốc tế, quốc gia về NCT.
[2] Theo Bộ Y Tế Việt Nam cho biết tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam đang có khuynh hướng tăng nhanh, hiện nay trong nước có khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11% dân số, riêng số người từ 80 tuổi trở lên là 2 triệu người. Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng NCT Việt Nam chiếm 18% và năm 2050 là 26% dân số [1]. Điều này cho thấy Việt Nam đã bước vào giai đoạn “già hóa dân số” giai đoạn mà nhiều người cho rằng có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.Với nét đặc thù riêng của nền văn hóa Việt Nam, NCT vẫn chiếm một vị trí một vai trò vô cùng quan trọng trong gia đình và xã hội. Trong gia đình, họ là điểm 1 tựa vững chắc, trong kinh nghiệm sống quý báu còn với bên ngoài xã hội, Dựa vào các chương trình hoạt động vì NCT của Liên Hiệp Quốc, nhà nước ta đã ban hành Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 nhằm nâng cao vị thế của NCT trong xã hội với những phong trào thiết thực tạo điều kiện cho NCT có thể tiếp tục đóng góp sức lực của minh cho cộng đồng theo nguyện vọng và hiện nay NCT đã trở thành lực lượng tham gia vào hoạt động an sinh xã hộivà còn là nguồn lực quý giá trong sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân dân tộc, góp phần thúc đẩy và thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước, giữ vững ổn định chính trị - xã hội an ninh quốc gia.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đầu tàu kinh tế - xã hội của cả nước đồng thời cũng là nơi tích cực trong việc huy động sự đoàn kết của nhân dân để tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh, phát triển cộng đồng xã hội hướng tới mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, NCT là một trong những lực lượng nòng cốt ở cơ sở và trong mỗi gia đình, họ đã nêu gương, kiên trì hướng dẫn, động viên con cháu chấp hành nghiêm túc pháp luật của Nhà nước, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy dân chủ ở cơ sở, bảo vệ môi trường sống, đóng góp để kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của các cụ phụ lão. Bác thường dạy: “Tuổi già nhưng chí không già, góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”. Qua việc thực hiện các phong trào “Nêu gương sáng” xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, phong trào “Người cao tuổi tham gia bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới”, “Tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, biển đảovà đặc biệt phong trào xây dựng “Gia đình ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo” trong giai đoạn 2015-2020.
Nhiều NCT tại địa phương dù tuổi đã cao nhưng vẫn sẵn sàng nhận các nhiệm vụ 2 của xã hội giao cho với lòng nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao với mong muốn đóng góp sức lực của mình vào những việc có ích cho cộng đồng. Đây là nguồn vốn vô cùng quý giá trong các phong trào hành động tại địa phương. Trước tình hình NCT đã tham gia vào các hoạt động xã hội theo Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 đã được nhà nước ban hành vì vậy việc nghiên cứu về việc NCT tham giahoạt động xã hội tại địa phương là một vấn đề cần thiết, để có một cách nhìn tổng quan về NCT trong vấn đề này. Sau khi tìm hiểu cho thấy việc nghiên cứu về vấn đề NCT tham gia hoạt động xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa có.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Sự tham gia của người cao tuổi tại cộng đồng” (Nghiên cứu trường hợp tại phường 8, quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh)để làm luận văn tốt nghiệpCao học. Những kết quả của cuộc nghiên cứu này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các cấp chính quyền để đưa ra các hoạch định cụ thể nhằm giúp nâng cao chất lượng hoạt động của NCT trên địa bàn. Tình hình nghiên cứu đề tài 2. Những nghiên cứu nước ngoài Bài viết nghiên cứu “How Participatory Are They?The Strengthsand challenges of Participationin theOlder People Self Help Group Initiative” của tác giả Yang Yunjeong nhằm đánh giá hoạt động sáng kiến của nhóm người cao tuổi tự lực tại Hàn quốc nhằm giúp người cao tuổi lão hoá trong cộng đồng của họ như là những người tham gia tích cực chứ không phải là người phụ thuộc, góp phần vào sự phát triển của cộng đồng đồng thời nghiên cứu này cũng nhằm kiểm tra hiệu quả của hoạt động này.
Qua nghiên cứu này cũng hướng đến trở thành dữ liệu cơ sở thực tiễn để góp phần phát triển ngành lão hóa học và là bài học kinh nghiệm cho các quốc gia trong quá trình 3 già hóa dân số. Bài viết nghiên cứu “An Ecological Framework for Active Aging in China” của tác giả Ko Pei Chun nhằm điều tra ảnh hưởng của các yếu tố cộng đồng đối với việc tham gia vào các hoạt động sản xuất (làm việc, chăm sóc cho các cháu, hoạt động tình nguyện, giúp đỡ và chăm sóc không chính thức) của người Trung Quốc lớn tuổi và chỉ ra thay đổi cấu trúc hộ gia đình và sự phát triển kinh tế nhanh chóng làm nổi bật tầm quan trọng của việc nghiên cứu sự hội nhập xã hội của người cao tuổi. Phân tích về hiện trạng lão hóa chủ động đã giải thích mức độ tham gia của người cao tuổi vào các hoạt động sản xuất trong gia đình và cộng đồng có thể giúp quá trình hội nhập khi họ thiết lập các vai trò xã hội mới khi bắt đầu nghỉ hưu.