Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC Chương1:CƠ Sở LÝ LUậN Về ĐộNG LựC VÀ TạO ĐộNG LựC LÀM VIệC CHO VIÊN CHứC 1. Lý luận chung về động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực Hiện nay, có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về động lực.
Ở mỗi góc độ, cách tiếp cận khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau về động lực. Trong Từ điển tiếng Việt của GS.Hoàng Phê: “Động lực là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” [19, tr368]. Trong giáo trình “Quản trị nhân sự”: “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức đã đặt ra” [24, tr128]. Từ góc độ tâm lý học, động lực được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó.
Như vậy, có rất nhiều quan niệm về động lực, trong luận văn này động lực được hiểu là sự tác động tổng hợp của các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi người nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Động lực là cái thúc đẩy con người nỗ lực hoạt động, làm việc để đạt được mục tiêu nhất định. Khái niệm động lực làm việc Theo giáo trình “Hành vi tổ chức”: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [21, tr85].
Theo giáo trình “Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường trong bối cảnh thay đổi”: Động lực làm việc là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao [12, tr24]. Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, có thể hiểu: “Động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Nhờ có động lực làm việc mà người lao động trong tổ chức có được sự nỗ lực, sự cam kết và sáng tạo trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong luận văn này, động lực làm việc được hiểu là những yếu tố thúc đẩy người lao động làm việc tích cực nhằm hoàn thành mục tiêu cá nhân và góp phần thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.
Khái niệm tạo động lực làm việc Động lực có vai trò quan trọng, là nhân tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự thành công, bởi vì mỗi cá nhân trong tổ chức có động lực, có sự tự nguyện từ trong bản thân sẽ thúc đẩy sự sáng tạo làm tăng năng suất và hiệu quả lao động, giúp thỏa mãn nhu cầu cá nhân đồng thời hướng tới mục tiêu 1 chung của tổ chức. Do vậy, việc tạo động lực làm việc luôn là mục tiêu và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý. Như vậy, tạo động lực làm việc có thể được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của nhà quản lý tác động lên các cá nhân trong tổ chức nhằm tác động vào nhu cầu của đối tượng quản lý để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo mục đích của tổ chức. Tạo động lực là hoạt động mang tính khuyến khích, động viên.
Từ cách hiểu về tạo động lực làm việc, có thể thấy rằng đây là một trong những hoạt động quan trọng của tổ chức nhằm đảm bảo hiệu quả và hiệu suất trong việc thực hiện nhiệm vụ. Mỗi tổ chức có thể dựa trên những hướng dẫn của đơn vị cấp trên hoặc tự tìm kiếm những cách thức, biện pháp phù hợp với đặc thù của tổ chức mình nhằm tác động một cách chính xác, kịp thời và phù hợp đến các thành viên trong tổ chức nhằm tạo ra động lực làm việc cho người lao động, đó có thể là những chính sách khuyến khích, hỗ trợ người lao động trẻ có trình độ, năng lực; là sự khen thưởng, động viên và hỗ trợ kịp thời về cả vật chất và tinh thần với người lao động; là sự công bằng và hợp lý trong cách thức đánh giá kết quả thực hiện công việccủa người lao động trong tổ chức,… 1. Vai trò của tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của cơ quan, đơn vị tác động cả đối với cá nhân người lao động và tổ chức, cụ thể như sau: Thứ nhất, đối với cá nhân người lao động: Động lực làm việc là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến tăng năng suất lao động và sản xuất có hiệu quả. Khi người lao động được tạo 1 động lực, họ sẽ đạt được mục tiêu của bản thân, có cơ hội để thành công trong công việc và cuộc sống.
Một người có động lực làm việc tức là họ sẽ thực hiện công việc của mình với nỗ lực cao, có mục đích định hướng và kiên trì theo đuổi các mục tiêu. Nếu có động lực làm việc thì người lao độngsẽ hài lòng với công việc và có ý thức tự phát triển và hoàn thiện mình. Thứ hai, đối với tổ chức: Tạo được động lực làm việc cho người lao động là một trong những yếu tố giúp tổ chức đạt được những mục đích sau: - Làm cho tổ chức sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất; - Gia tăng hiệu suất làm việc của tổ chức; - Giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu đề ra; - Thu hút, giữ chân nhân viên, tạo nên một lực lượng lao động ổn định và nâng cao vị thế, uy tín của tổ chức trên thị trường lao động cũng như trong xã hội. Khi chính sách tạo động lực được thực hiện tốt sẽ tạo ra sự gắn bó giữa người lao động với đơn vị, giảm tỉ lệ nghỉ việc, từ đó giảm chi phí tuyển dụng, đào tạo người lao động mới.
- Đem lại sự sáng tạo trong tổ chức; - Giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức; - Tạo động lực làm việc trong tổ chức cũng giúp xây dựng một bầu không khí làm việc thân thiện, có sự hợp tác chia sẻ, ít tranh chấp. Một số học thuyếtvề tạo động lực làm việc 1. Thuyếtnhu cầu của Maslow Thuyết nhu cầu của Maslow đưa ra 05 nhu cầu cơ bản của con người và sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: Nhu cầu sinh lý; Nhu cầu an 1 toàn; Nhu cần xã hội; Nhu cầu được tôn trọng; Nhu cầu được tự chứng tỏ mình. Thuyết nhu cầu của Maslow giúp nhà quản lý đánh giá được cấp độ nhu cầu của mỗi nhân viên, trong mỗi hoàn cảnh cụ thể để lựa chọn một giải pháp tạo động lực phù hợp.
Để tạo động lực cho nhân viên, người quản lý cần phải quan tâm tới tất cả các nhu cầu của người lao động và cần xác định được nhân viên của mình đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và tìm biện pháp để đáp ứng các nhu cầu này. Học thuyết công bằng của J.Stacy Adams Theo J.Stacy Adams, người lao động rất quan tâm đến vấn đề đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức. Họ luôn có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và những quyền lợi mà họ có với sự đóng góp, quyền lợi của người khác. Điều này được thể hiện như sau: Các quyền lợi cá nhân Các quyền lợi của những người khác = Đóng góp của cá nhân Đóng góp của những người khác Thuyết công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ.
Nguyên tắc “Quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng” phải được tôn trọng trong mỗi cơ quan, tổ chức. Khi quyền lợi của cá nhân được tôn trọng sẽ có tác dụng động viên, khuyến khích rất lớn. Quyền lợi cần được phân chia công bằng dựa trên năng lực, trình độ, sự nỗ lực, nhiệt tình, hiệu suất và hiệu quả trong công việc, sự đóng góp của mỗi cá nhân đối với tổ chức. Bởi vậy, để tạo động lực cho người lao động thì người quản lý cần tạo ra và duy trì sự cân bằng giữa sự đóng góp của cá nhân và các quyền lợi mà cá nhân đó được hưởng, đó có thể là tiền lương, tiền thưởng, tiền phúc lợi, được tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ, sự công nhận hay thăng tiến,… 1 1.
Thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke Học thuyết của Edwin Locke cho rằng: ý đồ làm việc hướng tới mục tiêu là nguồn gốc chủ yếu của động lực lao động. Do vậy, để tạo động lực lao động, cần phải có mục tiêu cụ thể mang tính thách thức cũng như cần phải thu hút người lao động vào việc đặt mục tiêu. Các mục tiêu này cần phải có sự tham gia xây dựng của cả 2 bên nhà quản lý và người lao động sao cho: Thứ nhất, mục tiêu cần phải rõ ràng và có thể đo lường; Thứ hai, mục tiêu phải có tính thách thức và gắn với thành tích như phần thưởng chính thức; Thứ ba, nhân viên phải cảm thấy như một phần của quá trình thiết lập mục tiêu, được cam kết mang lại thành quả rõ ràng; Thứ tư, phải có một chương trình có liên quan đến báo cáo phản hồi, nhận dạng và tiến bộ; Thứ năm, nhiệm vụ phải phức tạp nhưng không quá áp lực, có đủ thời gian và nguồn lực. Học thuyết hai nhân tố của Fredrick Herberg Học thuyết này chia các yếu tố tạo động lực người lao động thành hai loại: Yếu tố duy trì – thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài và yếu tố thúc đẩy – thỏa mãn bản chất bên trong được trình bày tại bảng 1.