CHƯƠNG 1: TẠO ĐỘNG LỰC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP. Người lao động. Người lao động nói chung được hiểu là những người được thuê để làm việc và được trả lương cho việc làm đó, có thể là lao động phổ thông như công nhân, giúp việc…hoặc lao động trí thức. Tại mỗi quốc gia trên thế giới có những quy định riêng đối với khái niệm “người lao động” ở tại nước đó.
Ở Việt Nam, khái niệm về người lao động được quy định chi tiết tại Điểm 1 Điều 3 Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 của Quốc hội. Theo đó “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” Do vây, đối tượng người lao động mà luận văn muốn đề cập ở đây chính là các Cán bộ công nhân viên tại công ty Cổ phần Xây dựng Quốc tế có hợp đồng làm việc với công ty theo đúng Luật Lao động ở nước ta bao gồm: công nhân xây dựng, nhân viên, cán bộ chuyên môn, cán bộ cấp quản lý trừ bộ phận trong Hội đồng Quản trị công ty. Động lực người lao động trong tổ chức. Động lực lao động giúp người lao động chủ động, hăng hái làm việc, tích cực sáng tạo, tinh thần trách nhiệm cao, gắn bó lâu dài với tổ chức.
Chính vì vậy, mà doanh nghiệp, tổ chức muốn đạt kết quả cao trong sản xuất kinh doanh thì luônphải quan tâm tới việc tạo động lực cho người lao động.Có thể nói động lực chính là một trong những yếu tố làm cho hiệu quả và năng suất của người lao động cao hơn. Vậy thế nào là động lực của người lao động? và Tạo động lực lao động là gì? Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau đối với hai khái niệm này như: Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 8 “ Động lực lao động là sự khát khao tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức.”1 “Động lực của người lao động chính là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong những điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.”2 Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất. Tại giáo trình Quản trị Nhân lực cả tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012) đã có nêu về mô hình Maier và Lawler (1973) đề cập về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Có thể nói kết quả thực hiện công việc phụ thuộc vào khả năng và động lực.Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi và nhanh chóng được cải thiện nếu có sự tác động từ yếu tố bên ngoài.
Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao dộng chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động và nhiều yếu tố khác. Chính vì vậy, động lực phải thường xuyên được duy trì. Trong cuốn sách Multlines của Mitchell năm 1999, ông cho rằng: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình”. Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về động lực như sau : " Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích con người nỗ lực thực hiện 1 Th.S Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân- Giáo trình Quản trị nhân lực- NXB ĐH KTQD, năm 2012 2 PGS.TS Bùi Anh Tuấn và PGS.
TS Phạm Thúy Hương- Giáo trình Hành vi tổ chức- NXB ĐH KTQD, năm 2013 Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 9 những hành vi theo mục tiêu ". Bản chất của động lực là xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của người lao động. Do đó, động lực của mỗi người lao động là khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau, phụ thuộc vào mỗi công việc cụ thể mà họ đang đảm nhận và mang tính tự nguyện của mỗi cá nhân. Nói chung thì có động lực lao động dẫn tới năng suất lao động và hiệu quả cao hơn,tuy nhiên nhiều trường hợp không phải như vậy.
Nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc nhưng người lao động nếu mất hoặc động lực giảm thì có xu hướng rời bỏ tổ chức. Việc đặt ra cho các nhà quản lý là làm sao để người lao động có động lực làm việc. Điều này chỉ có được trên cơ sở của quá trình tạo động lực trong lao động. Vậy tạo động lực trong lao động là gì? 1.
Tạo động lực làm việc. “Tạo động lực cho người lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác đSSộng đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc.”3 Tạo động lực cho người lao động sẽ kích thích lao động, các chính sách hợp lý giúp thoả mãn tinh thần làm việc tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, kích thích sáng tạo và sự gắn bó với tổ chức. Mặt khác tạo động lực cho người lao động làm việc sẽ giúp tổ chức khai thác tối đa khả năng của người lao động thu hút lao động giỏi giúp hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức. Mặt trái thiếu động lực lao động hoặc sử dụng các biện pháp tạo động lực không hợp lý chính là năng suất và hiệu quả công việc giảm, lâu dần người lao động có nguy cơ rời khỏi tổ chức.
Chính vì vậy, các nhà quản lý không những phải biết tìm ra các biện pháp tạo ra các động lực cho người lao động mà còn phải phù hợp vơí điều kiện hiện có của tổ chức mình. Tuy nhiên việc tạo động lực thế nào là hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện của từng tổ chức. Các học thuyết tạo động lực 3 PGS.TS Bùi Anh Tuấn và PGS. TS Phạm Thúy Hương- Giáo trình Hành vi tổ chức, Tr 83 - NXB ĐH KTQD, năm 2013 Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 10 1.
Học thuyết nhu cầu của Maslow. Năm 1943, Nhà tâm lý học Abraham Maslow đã phát triển lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước. Nhu cầu bậc cao Nhu cầu bậc thấp Sơ đồ 1.1: Tháp nhu cầu A.
Maslow Nguồn: PGS.TS Trần Minh Đạo (2002), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Giáo dục, Tr 109. Theo Maslow nhu cầu con người chia 5 thứ bậc cơ bản theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp tới nhu cầu bậc cao như sau: Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại, phát triển nòi giống.Trong tổ chức việctrả lương tốt và công bằng, cung cấp bữa ăn trưa, ăn giữa giờ, giữa ca miễn phí; đảm bảo các phúc lợi…sẽ đảm bảo thỏa mãn nhu cầu này của người lao động. Nhu cầu về an ninh và an toàn: là các nhu cầu như ăn ở, sinh sống an toàn, không bị đe đọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ.Do đó cầnbảo đảm điều kiện làm việc Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 11 thuận lợi, bảo đảm công việc được duy trì ổn định và chăm sóc sức khoẻ tốt cho nhân viên. Nhu cầu xã hội hay nhu cầu liên kết và chấp nhận: là các nhu cầu về tình yêu được chấp nhận, bạn bè, xã hội.Người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, cơ hội giao lưu giữa các bộ phận, các hoạt động vui chơi, giải trí….
Nhu cầu tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, địa vị .Do đó, để thỏa mãn nhu cầu này cần có cơ chế và chính sách khen ngợi, tôn vinh, ghi nhận một cách rộng rãi, được cung cấp kịp thời thông tin phản hồi, đề bạt nhân sự vào vị trí quan trọng… Nhu cầu hoàn thiện: sự mong muốn hoàn thiện bản thân, cơ hội phát triển sáng tạo và được trưởng thành như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước.Nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân, được tham gia đào tạo và phát triển, tạo cơ hội thăng tiến, cần được khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp. Maslow cho rằng các nhu cầu bậc thấp thì được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi nhu cầu bậc cao lại thỏa mãn từ bên trong nội tại con người. Khi con người được thoả mãn bậc dưới đến một mức độ nhất định thì tự nó nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn. Mặc dù, không có một nhu cầu nào có thể thỏa mãn triệt để, song nhu cầu được thỏa mãn một cách căn bản không còn tạo ra được động lực nữa.Nhà lãnh đạo phải hiểu được nhân viên của bạn đang ở cấp độ nhu cầu nào và nhu cầu của từng người ở từng thời điểm là khác nhau.
Từ đó, đưa ra các biện pháp làm cho họ thỏa mãn nhu cầu để họ hăng hái, chăm chỉ hơn với công việc được giao, tận tụy hơn với nhiệm vụ đảm nhận và đạt được mục tiêu của tổ chức. Học thuyết công bằng của J Stacy Adam. Thuyết công bằng do J. Adams – một nhà tâm lý học hành vi và quản trị đưa ra vào năm 1963.
Lí luận này chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ so sánh giữa sự cống hiến của cá nhân đối với tổ chức và sự báo đáp mà mình nhận được từ tổ chức. Theo giáo trình Quản trị Nhân lực, tác giảTh.S Nguyễn Vân Điềm và PGS.