phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo thì nội dung chính luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng về tạo động lực tại công ty Liên Doanh Vận chuyển Quốc tế Hải Vân Chƣơng 3: Một số giải pháp tạo nâng cao động lực cho ngƣời lao động tại công ty Liên Doanh Vận Chuyển Quốc Tế Hải Vân. 10 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến tạo động lực 1. Nhu cầu và lợi ích Theo Bùi Anh Tuấn&Phạm Thúy Hƣơng (2011), Giáo trình hành vi tổ chức, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội“Nhu cầu đƣợc đƣợc hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn” Nhu cầu của mỗi ngƣời khá đa dạng và phong phú, và có thể nhóm chúng lại thành hai nhóm là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần, song nội hàm của các nhu cầu này luôn vận động, biến đổi và cùng với thời gian, có thể phát sinh thêm nhu cầu mới.
Và khi con ngƣời có nhu cầu, họ sẽ tìm cách để đáp ứng nhu cầu đó. Việc đáp ứng các nhu cầu cũng có nghĩa là con ngƣời thu về một số lợi ích nhất định. Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời trong một điều kiện cụ thể nhất định. Lợi ích càng lớn thì mức độ thỏa mãn nhu cầu càng cao.
Và cũng giống nhƣ nhu cầu, lợi ích cũng đƣợc phân thành hai nhóm đó là lợi ích về vật chất và lợi ích về tinh thần. Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Động cơ, động lực và tạo động lực Động cơ:Để thõa mãn các nhu cầu của mình, con ngƣời tham gia lao động xã hội. Và mỗi hành động của con ngƣời đều có mục đích, mục tiêu cụ thể hay có thể nói là có động cơ rõ ràng.
Nhƣ vậy, động cơ lao động nói chung là sự biểu thị thái độ chủ quan của con ngƣời với hành động của mình. Động cơ lao động ở điều kiện nhất định sẽ trở thành động lực lao động. Động lực:Động lực của ngƣời lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của 12 con ngƣời chính là lợi ích.
Nhu cầu và lợi ích là hai yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến động lực lao động, nhu cầu là động cơ thúc đẩy con ngƣời làm việc còn lợi ích là động lực trực tiếp khiến con ngƣời làm việc đạt hiệu quả cao. Nếu không có nhu cầu thì không thể thoả mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện con ngƣời sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt đƣợc. Khi sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng đƣợc rút ngắn thì lợi ích càng lớn.
Lợi ích đạt đƣợc càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh. Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chƣa đƣợc rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con ngƣời hành động để rút ngắn nó. Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. Theo Nguyễn Ngoc Quân & Nguyễn Vân Điềm (2015), Giáo trình quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức.
Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con ngƣời và trong môi trƣờng sống và làm việc của con ngƣời” Theo các nhà nghiên cứu, động lực lao động có một số đặc điểm đặc điểm nhƣ sau: - Động lực không phải là đặc điểm cá nhân mà là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con ngƣời và trong môi trƣờng sống và làm việc của con ngƣời. - Động lực lao động luôn phải gắn liền với công việc, tổ chức và môi trƣờng làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. - Khi động lực suy giảm thì ngƣời lao động vẫn có thể hoàn thành công việc nhƣng dần dần nếu động lực không đƣợc nâng cao sẽ có xu hƣớng ra khỏi tổ chức. Tạo động lực: Theo Bùi Anh Tuấn & Phạm Thúy Hƣơng (2011), Giáo trình hành vi tổ chức, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội “Tạo động lực 13 đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc” Nói cách khác tạo động lực là một trong những hoạt động của quản trị nhân lực, sử dụng tổng hòa nhiều yếu tố để những kích thích để tăng hiệu quả thực hiện công việc của ngƣời lao động, nhằm tạo ra động lực cho ngƣời lao động, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đƣợc đóng góp cho tổ chức nhiều hơn.
Vai trò của tạo động lực lao động 1. Đối với người lao động - Tăng năng suất lao động: Khi ngƣời lao động đƣợc tạo động lực, có động lực làm việc, họ sẽ làm việc hăng say, từ đó tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không thay đổi. - Kích thích sự sáng tạo: Từ sự say mê của ngƣời lao động sẽ tìm tòi phát hiện ra cái mới để phục vụ cho quá trình làm việc của bản thân đƣợc kết quả cao hơn. - Tăng sự gắn bó của ngƣời lao động đối với tổ chức: Nếu ngƣời lao động cảm thấy thích thú với công việc đó thì không có lý do gì để họ rời bỏ tổ chức.
Vì khi thay đổi chỗ làm việc cũng cần tính đến các chi phí. - Hoàn thiện bản thân: Ngƣời lao động khi có đƣợc tạo động lực làm việc động thì họ biết tự chủ động sẽđể học hỏi kinh nghiệm của những ngƣời đi trƣớc, ngƣời có trình độ cao hoặc tự mình học tập để thực hiện công việc đƣợc tốt hơn. - Động lực lao động là đòn bẩy giúp ngƣời lao động vƣợt qua đƣợc nhiều khó khăn trong công việc, kích thích cho việc ra đời các sáng kiến mới, những biện pháp cải tiến phƣơng pháp làm việc trong sản xuất… 1. Đối với doanh nghiệp -Tạo động lực sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh: Sử dụng hiệu quả nguồn lực, khai thác tối ƣu khả năng của ngƣời lao động.
Ngƣời lao động làm việc vừa có năng suất cao lại tiết kiệm đƣợc chi phí, tiết kiệm nguyên vật liệu cho tổ chức. - Có đƣợc một đội ngũ lao động giỏi, trung thành, nhiệt huyết, đồng thời thu hút đƣợc các lao động giỏi về làm việc cho tổ chức. - Góp phần nâng cao uy tín, làm đẹp hình ảnh của công ty trên thị trƣờng thông qua tuyên truyền của các phƣơng tiện thông tin đại chúng, các cơ quan chức năng, của chính những ngƣời lao động. - Tăng hàm lƣợng trí tuệ cho các công ty thông qua phát minh, sáng kiến.
- Cải thiện mối quan hệ giữa ngƣời lao động với ngƣời sử dụng lao 15 động, ngƣời lao động với tổ chức, tạo bầu không khí làm việc hăng say, thoải mái góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp ngày càng phát triển tốt đẹp. Đối với xã hội - Tạo động lực lao động giúp các cá nhân có đƣợc động lực, do đó tiến tới mục đích của mình, thỏa mãn đƣợc các nhu cầu trong cuộc sống, làm phong phú hơn cuộc sống tinh thần của bản thân và dần hình thành nên những giá trị xã hội mới cho cuộc sống hiện đại. Mặt khác, động lực lao động còn gián tiếp xây dựng xã hội ngày một phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của các tổ chức kinh doanh. Vai trò của tạo động lực lao động là rất lớn.
Vì vậy là một nhà quản lý cần phải quan tâm đến điều này đƣợc bởi lẽ kết quả làm việc đƣợc xem nhƣ là một hàm số của năng lực và động lực làm việc. Năng lực làm việc phụ thuộc vào sự giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng đƣợc huấn luyện. Tuy nhiên động lực lại không nhƣ vậy, nó có thể thay đổi thƣờng xuyên phụ thuộc và các yếu tố khách quan trong công việc. Nó đƣợc gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trƣờng làm việc cụ thể.
Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhƣng vào một thời điểm khác động lực lao động chƣa chắc đã còn trong họ, điều này đòi hỏi nhà quản lý phải hiểu thấu đáo và ứng dụng đúng cách các phƣơng pháp tạo động lực.Một số học thuyết tạo động lực 1. Học thuyết thứ bậc nhu cầu Của Maslow Lý do chọn học thuyết: Nhân sự trong tổ chức hầu hết đều thực hiện công việc và hành động tuân theo nhu cầu. Chính sự thõa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Đồng thời việc nhu cầu đƣợc thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con ngƣời.
Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi đƣợc hành vi của con ngƣời. Do vậy tác giả chọn học thuyết thứ bậc nhu cầu của Malows để sử dụng nhằm tiếp cận với tạo động lực lao động trong công ty. Hệ thống nhu cầu do Abraham Maslow xây dựng nên là một trong những mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá 16 nhân. Nhu cầu của cá nhân rất phong phú và đa dạng, do vậy để đáp ứng đƣợc nhu cầu đó cũng rất phức tạp.
Để làm đƣợc điều này Maslow đã chỉ ra rằng ngƣời quản lý cần phải có các biện pháp tìm ra và thoả mãn nhu cầu ngƣời lao động, khi đó sẽ tạo ra đƣợc động lực cho ngƣời lao động và ông nhấn mạnh rằng trong mỗi con ngƣời bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu nhƣ hình vẽ sau: Hình 1.Tháp nhu cầu Maslow Theo lý thuyết này nhu cầu con ngƣời xuất hiện theo thứ bậc từ thấp đến cao. Khi nhu cầu thấp đƣợc thoả mãn thì nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện.