CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Khái niệm động lực làm việc Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về động lực làm việc, mỗi một công trình nghiên cứu có một cách tiếp cận vấn đề khác nhau, cụ thể: Động lực làm việc theo Kraitner (1995): Động lực lao động là một quá trình diễn biến tâm lý trong đó định hướng cho hành vi của cá nhân bởi các mục tiêu cụ thể. Động lực làm việc theo Higgins (1994): Động lực lao động là những lực đẩy bên trong nhằm đáp ứng các nhu cầu cá nhân chưa được thỏa mãn. Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức.
Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người [15]. Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động [21]. Như vậy, động lực làm việc là sự thúc đẩy tất cả các hành động của con người nhằm đạt được mục tiêu gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực, khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Trong quá trình thực thi công vụ, động lực làm việc của CBCC ảnh hưởng tới hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính, xuất phát từ khao khát và tự nguyện, là sự thúc đẩy bên trong, nỗ lực hết mình để đạt mục tiêu mà cơ quan hành chính đặt ra. 7 Khi đánh giá động lực làm việc cần quan tâm đến 3 biểu hiện: mức độ hài lòng, thỏa mãn trong công việc (sự nhiệt tình, hăng hái, năng động tham gia vào công việc, sự sáng tạo trong công việc…); mức độ tham gia vào công việc (mức độ tập trung vào công việc, mức độ kiên trì trước những nhiệm vụ khó khăn, mức độ tham gia vào các hoạt động tập thể, kết quả làm việc, mức độ sử dụng thời gian khi thực hiện nhiệm vụ…); mức độ gắn bó với đơn vị (biểu hiện ở sự mong muốn của người lao động gắn bó lâu dài với tổ chức, không có ý định kiếm công việc khác). Cán bộ công chức chỉ tham gia nhiệt tình các hoạt động do cơ quan tổ chức với tinh thần tự nguyện và nỗ lực hết mình khi họ có động lực làm việc. Và họ cảm thấy tin tưởng, yên tâm và muốn gắn bó lâu dài với đơn vị khi họ thấy được vai trò, vị trí, sự cống hiến của mình được coi trọng và được đánh giá công bằng.
Khái niệm tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc cho người lao động là vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý của mỗi tổ chức, muốn xây dựng tổ chức vững mạnh thì các nhà quản lý phải dùng mọi biện pháp kích thích nhân viên của mình, phát huy tối đa tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Các cơ quan hành chính nhà nước chỉ có thể đạt hiệu quả làm việc cao khi họ có đội ngũ CBCC làm việc tích cực và sáng tạo. Để đạt được điều này thì cần phải quan tâm tới cách thức và phương pháp mà những nhà quản lý sử dụng để tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức. Theo giáo trình Hành vi tổ chức: “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm cho người lao động có động lực làm việc” [21].
8 Theo đó, tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động thực thi nhiệm vụ để đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra. Sự cần thiết của tạo động lực làm việc Đối với người lao động: Người lao động luôn có nhu cầu được thỏa mãn về nhiều mặt trong cuộc sống đặc biệt đó là vật chất và tinh thần. Họ sẽ làm việc chăm chỉ, cần cù hơn khi thấy những nhu cầu của mình được đáp ứng từ đó tạo tâm lý hưng phấn thúc đẩy họ làm việc. Khi không có động lực làm việc thì NLĐ chỉ hoàn thành công việc được giao một cách ép buộc, không có sự sáng tạo, do đó mà công việc khó có thể đạt được mục tiêu.
Họ làm việc theo trách nhiệm được giao đôi khi còn né tránh, ỷ lại vào người khác. Khi những nhu cầu của bản thân NLĐ được thỏa mãn một cách tương đối thì họ mới tích cực lao động. Do đó các nhà quản lý cần phải tạo động lực thúc đẩy năng lực làm việc và tính sáng tạo của NLĐ. Điều này thể hiện ở lợi ích mà họ được hưởng.
Đồng thời, người lao động sẽ có cảm giác buồn bực, chán nản, mất tập trung khi mà họ cảm thấy lợi ích họ nhận được không tương xứng với những công sức họ bỏ ra, những nhu cầu đưa ra không được đáp ứng hoặc đáp ứng một cách miễn cưỡng. Như vậy, lợi ích là căn cứ để đánh giá mức độ hài lòng của NLĐ đối với tổ chức, các nhà quản lý khi giao một công việc nào đó cho họ thực hiện. Việc điều chỉnh hài hòa lợi ích giữa các bên trong lao động, trong công việc sẽ tạo động lực cho mọi người làm việc. Người lao động khi có được động lực, họ sẽ luôn cố gắng, phấn đấu trong công việc, luôn chủ động học hỏi, nâng cao kiến thức từ đó đúc kết những kinh nghiệm quý báu để làm việc tốt hơn, để hoàn thiện bản thân mình hơn.
Một số học thuyết tạo động lực làm việc Hiện nay có rất nhiều nhà quản lý, các nhà khoa học đã nghiên cứu, tiếp cận vấn đề động lực và các yếu tố ảnh hưởng tới tạo động lực làm việc cho người lao động. Mỗi công trình nghiên cứu, mỗi học thuyết khoa học đều 9 có những nhận định riêng trên cơ sở lý luận của mình. Qua tìm hiểu và tham khảo, để làm cơ sở lý luận và tiền đề để tiến hành nghiên cứu, tác giả đã lựa chọn học thuyết nhu cầu của Maslow, học thuyết công bằng của Stacy Adams và Học thuyết Carter, S., Shelton, M để khẳng định động lực quyết định hiệu suất công việc, yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu của tổ chức cũng như mục tiêu của bản thân người lao động. Học thuyết nhu cầu của Maslow Theo nhà tâm lý học người Mỹ - Abraham Maslow, ông cho rằng con người cần được thỏa mãn những nhu cầu khác nhau và dựa trên cơ sở đó, ông phân chia thành 5 nhóm nhu cầu của con người được sắp xếp theo hình bậc thang theo thứ tự từ thấp đến cao [1]: Hình 1.
Tháp nhu cầu Maslow Nhóm 1: Nhu cầu sinh học Nhu cầu sinh học là những nhu cầu thực tế, cần thiết nhất của con người bao gồm: nhu cầu được ăn, mặc, ngủ, tài sản (nhà, xe, quần áo…). Như vậy trước hết phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu (ăn, mặc, ngủ, nghỉ, đi lại) của 10 người lao động bằng chế độ lương, thưởng, hỗ trợ đi lại, hỗ trợ ăn, ở. để họ lo sinh hoạt hàng ngày và đảm bảo cuộc sống riêng họ và gia đình. Nhu cầu sinh học trong kim tự tháp Maslow được xếp ở bậc cuối cùng, khi nhu cầu này được đáp ứng hoặc thỏa mãn thì các nhu cầu khác cao hơn mới có thể xuất hiện.
Nhóm 2: Nhu cầu an toàn Đây là nhu cầu tiếp theo trong tháp Maslow - con người sẽ hướng đến như cầu cao hơn đó là an ninh, an toàn cho bản thân khi mà nhu cầu sinh học đã được đáp ứng. Đó là ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp, xã hội ổn định. Con người muốn được bảo vệ trước những mối nguy hiểm, đe dọa về tinh thần hay vật chất. Chính điều này mà pháp luật được ra đời, đội ngũ công an, cảnh sát xuất hiện và thực hiện vai trò bảo vệ an toàn, an ninh, trật tự xã hội.
Đó là nhu cầu được làm việc trong môi trường ổn định, an toàn (điều kiện làm việc tốt, công việc ổn định, đảm bảo an toàn lao động); nhu cầu về sức khỏe (được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 lần/năm; được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp). Nhóm 3: Nhu cầu xã hội Nhu cầu về xã hội là nhu cầu thiên về các yếu tố tinh thần, cảm xúc. NLĐ mong muốn thiết lập các mối quan hệ xã hội thông qua giao lưu, gặp gỡ, tiếp xúc với những người khác trong công ty, trường lớp, gia đình; mong muốn tham gia các hoạt động giao lưu, sinh hoạt tập thể, tham gia các phong trào văn nghệ thể thao, tham gia đội bóng, các chuyến thăm quan du lịch, nghỉ mát, học tập kinh nghiệm… Các nhà lãnh đạo quản lý cần làm tốt, đáp ứng nhu cầu quan trọng và cần thiết này để nhằm tạo động lực cho người lao động trong công việc. Nhóm 4: Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu tôn trọng là nhu cầu mong muốn được người khác tôn trọng, thừa nhận, nhu cầu muốn phấn đấu để có địa vị, nhu cầu được thừa nhận 11 thông qua năng lực của bản thân.
Trong thực tế, cần khen thưởng kịp thời đối với những lao động có thành tích tốt, người có sáng kiến cải tiến kỹ thuật đóng góp cho giảm thời gian, công sức trong thực hiện công việc. Trao tặng giấy khen, bằng khen…phù hợp với thành tích đạt được đồng thời tạo điều kiện cho mọi người được thăng tiến xứng đáng với những đóng góp của họ. Nhóm 5: Nhu cầu tự hoàn thiện Đây là nhu cầu cao nhất trong kim tự tháp Maslow. Đây là mong muốn được chứng minh bản thân, mong muốn được phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, mong muốn sáng tạo và được công nhận.
Người lao động có nhu cầu tự chủ trong công việc để tự khẳng định bản thân mình; có nhu cầu muốn thử sức làm những công việc mới hơn, khó hơn, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực, chủ động để đạt được mục tiêu hoàn thành tốt công việc.