CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm động lực làm việc Theo Rainey (1993), động lực lao động là một khái niệm rất khó có thể năm bắt và định nghĩa một cách chính xác được. Động lực lao động vẫn là một đề tài xuất hiện nhiều trong các cuộc nghiên cứu về hành vi của nhân viên trong tổ chức, mỗi nghiên cứu đều có những quan niệm về động lực lao động theo góc độ riêng.
Đề tài này là một trong những chủ đề được bàn thảo nhiều nhất trong hoạt động nghiên cứu và thực tiễn của doanh nghiệp bởi vai trò quan trọng của nó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế, đã có rất nhiều các nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới như: Kreitner (1995) đã định nghĩa như sau: “Động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Higgins (1994) cho rằng: “Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”. Còn theo Bedeian (1993) định nghĩa: “Động lực là cố gắng để đạt mục tiêu của mỗi cá nhân”.
Chung quy lại, có thể nói động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ. Tại các tổ chức, doanh nghiệp, các nhà quản lý, quản trị vẫn luôn tìm kiếm các giải pháp nâng cao động lực làm việc cho người lao động. Một số đặc điểm của động lực lao động: Động lực lao động luôn gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trường làm việc cụ thể, được thể hiện qua công việc mà họ đảm nhận, trong thái độ của họ đối với tổ chức. Để tạo ra động lực lao động, các nhà quản lý, quản trị cần hiểu rõ năng lực cá nhân mỗi người, phân công công việc phù hợp với năng lực, hiểu rõ về môi trường làm việc cũng như mối quan hệ của họ với tổ chức.
Động lực không phải đặc điểm tính cách cá nhân. Nó không phải cố hữu mà luôn luôn thay đổi tuỳ vào thời điểm. Chính đặc điểm này mà nhà quản trị có thể can thiệp vào quá trình tạo động lực cho người lao động của mình. Động lực lao động mang tính tự nguyện.
Người lao động có động lực lao động sẽ làm việc hết mình, làm việc hăng say và có chủ đích một cách tự nguyện mà không hề cảm thấy phải chịu áp lực hay sức ép nào. Động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến 1 tăng năng suất cá nhân và sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, tạo nên sức mạnh vô hình bên trong con người từ đó thúc đẩy con người nỗ lực và hăng say làm việc hơn. Khái niệm tạo động lực làm việc “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [2,8]. Hay “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức” [3,145].
Tạo động lực là quá trình tạo ra kích thích cho hành động, động viên những cố gắng cho người lao động. Hay ta có thể hiểu tạo động lực là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý, cách ứng xử hay các hoạt động mang tính chất động viên, khuyến khích nhằm tác động đến nhu cầu, mong muốn của người lao động để tạo nên sự biến chuyển tích cực trong hành vi, hướng người lao động hành động một cách tự nguyện đến những mục tiêu mà tổ chức mong muốn. Tạo động lực một các hiệu quả giúp người lao động làm việc chăm chỉ, hăng say, phát huy sự sáng tạo và thể hiện được tiềm năng của bản thân, từ đó năng suất lao động tăng cao, đem lại lợi ích to lớn cho các doanh nghiệp, tổ chức. Để tạo động lực một cách khoa học và có hiệu quả, đòi hỏi các nhà quản lý, quản trị phải nghiên cứu thật rõ về các nhu cầu, mong muốn, hành vi của người lao động.
Khi đã nắm được nhu cầu, mong muốn của nhân viên, các nhà quản lý, quản trị sẽ tạo ra những “nghệ thuật” trong tạo động lực, đề ra các biện pháp phù hợp như hỗ trợ, đáp ứng một phần hay đáp ứng hoàn toàn nhu cầu nào đó của người lao động; khiến người lao động an tâm làm việc, cống hiến hết mình cho công việc. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm nhu cầu “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [2,88]. Nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu).
2 Thư viện ĐH Thăng Long Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu thường xuất hiện trong ý thức của con người ở 3 cấp độ khác nhau, đó là ý hướng, ý muốn và khát vọng.
Khái niệm động cơ “Động cơ lao động của người lao động xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu ăn, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng. Động cơ thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng để thỏa mãn một mong muốn hoặc một mục tiêu. Về mặt tâm lý, động cơ có thể được mô tả như là một lực lượng bên trong thức đẩy hành vi của chúng ta. Động cơ được tạo bởi những nhu cầu chưa được thỏa mãn khi chúng ta trở nên căng thẳng và dần dần dẫn tới những hành động tạo ra sự thỏa mãn được thỏa mãn để tồn tại và phát triển.
Có nghĩa là, trong mỗi một thời điểm nào đó ở chúng ta có thể tồn tại nhiều nhu cầu, nhưng nhu cầu nào mạnh nhất sẽ đóng vai trò động cơ thúc đẩy. Trong 3 cấp độ của nhu cầu, khi nhu cầu đã đạt tới khát vọng thì nó biến thành động cơ thúc đẩy hành động. Có thể có nhiều động cơ cho một hành động: động cơ chính, động cơ phụ, sắp xếp theo thứ tự trên dưới tùy thuộc vào ý nghĩa của nó đối với cá nhân và tình huống cụ thể. Một số học thuyết về tạo động lực 1.
Học thuyết nhu cầu của Abaraham Maslow Thạc sĩ tâm lí Nguyễn Công Vinh – Trưởng ban cố vấn chiến lược Trung tâm đào tạo Hồn Việt từng chia sẻ: “Mọi thứ trên đời này đều có thể được giải thích bởi thang nhu cầu Maslow. Từ những học thuyết như “cây gậy, củ cà rốt” cho đến hành vi của mỗi người trong cuộc sống cũng xuất phát từ thang nhu cầu này”. Vậy học thuyết nhu cầu Maslow là gì? Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow được xem là thuyết về tâm lý có giá trị nhất trong hệ thống lý thuyết tâm lý mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống. Ông nhấn mạnh rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu, thứ tự từ thấp tới cao: Nhu cầu về sinh lý, nhu cầu về an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện.
Dưới đây là mô hình tháp nhu cầu theo từng cấp bậc của Maslow: 3 (Nguồn:[20]) Hình 1. Tháp nhu cầu Maslow Nhu cầu sinh học: Ở vị trí thấp nhất trong hệ thống, đây là những nhu cầu mà con người luôn cố gắng để thỏa mãn trước tiên như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục hay các nhu cầu cơ bản làm cho con người tồn tại. Khi cấp nhu cầu này chưa được thỏa mãn, thì sẽ không xuất hiện các nhu cầu ở cấp bậc cao hơn. Ban đầu chúng ta có nhu cầu được ăn no, mặc ấm; khi đã thỏa mãn sẽ xuất hiện nhu cầu ăn ngon mặc đẹp và sẽ có những mong muốn còn cao hơn nữa.
Vì vậy, khi con người ban sức lao động, họ cần thiết nhận được mức lương đủ để nuôi sống bản thân, thỏa mãn các nhu cầu cơ bản nhất. 9 Đây chính là lý do khiến Nhà nước ban hành mức lương cơ sở và mức lương tối thiểu vùng phù hợp với từng thời kỳ. Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn. Ở mức nhu cầu này con người sẽ có những phản ứng lại với những dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe dọa đến bản thân.
Họ cần sự bảo vệ, an toàn trước những sự đe dọa, mối nguy hiểm về vật chất hay tinh thần. Đó là sự mong muốn sống một cuộc sống ổn định, một xã hội hòa bình. Đây cũng là lý do xuất hiện hệ thống pháp luật hay đội ngũ công an, cảnh sát trong cuộc sống của chúng ta. Vì đảm bảo an toàn thân thể, an toàn tinh thần, người lao động đã không ngừng đòi hỏi người sử dụng phải xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh với các hệ thống an toàn như an toàn thông tin, phòng chống cháy nổ, hay việc cung cấp các trang thiết bị an toàn lao động: khẩu trang, mũ, áo bảo hộ, giày.
Nhu cầu xã hội: Khi đã thỏa mãn các nhu cầu sinh lý, được an toàn thì ngay lập tức nảy sinh cấp độ tiếp theo của nhu cầu. Đây sẽ là một nhu cầu về tinh thần.