CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Qua tham khảo tài liệu, tác giả thu thập được một số tài liệu khái niệm về nguồn nhân lực như sau: Stivastava M.P (1997) cho rằng nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu. Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới dạng một nguồn vốn quan trọng, có khả năng sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai, làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế. Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được nhờ vào quá trình lao động sản xuất Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008) : nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải và vật chất tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Nguyễn Hữu Dũng (2003) nguồn nhân lực là tiềm năng con người có thể khai thác cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn nhân lực là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm sống. Nguồn nhân lực là sự kết hợp giữa thể lực và trí lực của con người trong sản xuất tạo ra năng lực sáng tạo, chất lượng và hiệu quả cho doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Khái niệm quản trị nguồn nhân lực xuất hiện từ những năm 1980 ở các nước phát triển, là dấu hiệu ghi nhận vai trò rộng mở và cũng ghi nhận một cách quản trị mới từ quản trị cứng nhắc, xem con người chỉ là lực lượng thừa hành phụ thuộc cần khai thác tối đa ngắn hạn, với chi phí tối thiểu đã và đang chuyển sang một cách quản trị mềm dẻo, linh hoạt hơn, tạo điều kiện để con người phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, vừa khai thác năng lực của họ vừa có kế hoạch đầu tư dài hạn sao co chi phí được sử dụng một cách tối ưu.
Tùy theo cách tiếp cận và nhận thức khác nhau mà các nhà nghiên cứu có khái niệm quản trị nguồn nhân lực khác nhau. 11 Theo Trần Kim Dung (2011): Quản trị nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút đào tạo- phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012): Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng. Theo tài liệu Quản trị NNL của Phạm Xuân Thu (2020): Quản trị NNL là việc hoạch định, phát triển và điều khiển một mạng lưới các mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau và liên quan đến tất cả các thành phần của tổ chức.
Tuy có nhiều khái niệm khác nhau, tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng có thể nhận thấy rõ hai mục tiêu cơ bản của quản trị NNL là: (1) Sử dụng nguồn lực có hiệu quả; (2) Đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người lao động, tạo điều kiện cho người lao động phát huy tối đa năng lực cá nhân, được kích thích, động viên, tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với tổ chức. Như vậy, sau khi phân tích các khái niệm quản trị và quản trị NNL, tác giả xin đưa ra định nghĩa về quản trị NNL như sau: Quản trị NNL là những tác động hợp quy luật của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.2 Mục tiêu của công tác quản trị NNL Dựa trên khái niệm nguồn nhân lực, ta thấy mục tiêu của công tác quản trị NNL của một tổ chức là cung cấp một lượng lao động có hiệu quả cho tổ chức đó. Muốn làm được điều này, bản thân tổ chức phải thực hiện tốt công tác tổ chức hành chính, quản trị nhân sự. Nghĩa là trong phạm vi được giao, đơn vị thực hiện công tác tổ chức hành chính, quản trị nhân sự phải biết xây dựng các kế hoạch, tham mưu cho Ban lãnh đạo những phương án phù hợp trong việc tuyển dụng, lựa chọn, đánh giá, bố trí công việc thích hợp cũng như có kế hoạch sử dụng NNL trung và dài hạn như: đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển sang các vị trí khác, giúp cho NNL được lựa chọn có nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực, có thể nắm giữ nhiều vị trí khác nhau một cách chuyên nghiệp khi được giao công việc mới.
Đồng thời khi được bố trí vào các vị trí phù hợp với sở trường công tác, có chế độ đãi ngộ xứng đáng sẽ tạo động lực phát triển bản thân. Vì vậy công tác quản trị nguồn nhân lực ngoài việc mang lại lợi ích cho xã hội, hiệu quả công việc cho tổ chức còn góp phần động viên khích lệ sự nỗ lực của cá nhân người lao động.3 Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Công tác quản trị NNL có tầm quan trọng vô cùng to lớn mà bất cứ một tổ chức nào cũng luôn coi trọng, có tính quyết định cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức.Thurow- nhà kinh tế và quản trị học thuộc viện công nghệ kỹ thuật Matsachuset cho rằng: Điều quyết định cho sự tồn tại và phát triển của công ty là những con người có học vấn cao, được đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hóa và biết cách làm việc có hiệu quả. Do vậy, sự thành bại của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố nguồn nhân lực. Tổ chức được giao thực hiện công tác quản trị NNL phải thường xuyên xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng NNL một cách hợp lý, có lộ trình theo hướng dài hạn.
Người làm công tác quản trị NNL cần có kiến thức và hiểu biết chuyên sâu về sử dụng NNL cũng như có khả năng đánh giá thực lực nguồn lao động hiện có, kịp thời tham mưu cho lãnh đạo có quyết định phù hợp nhằm tối đa hóa lợi ích khi sử dụng đúng người, đúng việc. Từ vai trò hết sức quan trọng của công tác quản trị NNL cho ta thấy rằng, công tác quản trị NNL là hết sức quan trọng, là chìa khóa thành công cho bất kỳ một tổ chức nào.4 Chức năng của quản trị NNL Hoạt động quản trị NNL liên quan đến tất cả các vấn đề thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Trong thực tiễn những hoạt động này rất đa dạng, phong phú và rất khác biệt tùy theo các đặc điểm về cơ cấu tổ chức, công nghệ, nhân lực, tài chính, trình độ phát triển ở các tổ chức. Tất cả các tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động cơ bản như: xác định nhu cầu nhân viên, lập kế hoạch tuyển dụng, bố trí nhân viên, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật….
Tuy nhiên có thể phân chia công tác quản trị NNL theo ba nhóm chức năng như sau: 1.1 Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng này nhằm đảm bảo có đủ số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của tổ chức. Để có thể tuyển dụng được đứng người, đúng việc,trước hết tổ chức phải căn cứ vào nhiệm vụ, kết quả công việc và thực trạng sử dụng nhân viên trong đơn vị nhằm xác định vị trí nào cần tuyển thêm người. Thực hiện phân tích công việc sẽ cho biết tổ chức cần tuyển bao nhiêu người và yêu cầu, tiêu chuẩn đặt ra đối với các ứng viên như thế nào. Việc áp dụng các kỹ năng tuyển dụng sẽ giúp chọn được ứng viên tốt nhất cho vị trí cần tuyển.
Do đó nhóm chức năng thu hút NNL thường 13 bao gồm các hoạt động như: dự báo và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, phỏng vấn, trắc nghiệm, thu thập, xử lý và lưu giữ các thông tin về nguồn nhân lực của tổ chức.2 Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Nhóm chức năng này tập trung vào việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa năng lực cá nhân. Các tổ chức thường áp dụng chương trình hướng nghiệp và đào tạo cho nhân viên mới nhằm xác định năng lực thực tế của nhân viên và giúp nhân viên làm quen với công việc của tổ chức. Đồng thời, các tổ chức cũng thường xuyên lập kế hoạch đào tạo, huấn luyện và đào tạo lại nhân viên mỗi khi có sự thay đổi nhu cầu sản xuất hay quy trình công nghệ mới. Nhóm chức năng đào tạo và phát triển thường thực hiện các hoạt động như: hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành cho công nghệ cho cán bộ quản lý, kỹ thuật công nghệ cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ.3 Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực Nhóm chức năng này nhằm duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, gồm hai chức năng là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động trong tổ chức.
Trong đó chức năng kích thích, động viên liên quan đến các chính sách và các hoạt động nhằm khuyến khích, động viên nhân viên trong tổ chức làm việc hăng say, nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao. Giao cho nhân viên những công việc mang tính thách thức cao, đánh giá mức độ hoàn thành công việc của nhân viên, trả lương phù hợp, kịp thời khen thưởng các cá nhân có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, có đóng góp và hiệu quả sản xuất kinh doanh là những biện pháp hữu hiệu để thu hút và duy trì đội ngũ lao động lành nghề cho tổ chức.