Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Thái Nguyên Chương 4: Giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động tại Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Thái Nguyên 1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Động lực, nhu cầu, lợi ích, động cơ - Động lực: “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó” (Lê Hữu Tầng, 2017).
“Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao” (Lê Thanh Hà ,2019). Từ hai khái niệm trên ta có thể khái quát lại “Động lực là sự thúc đẩy tất cả các hành động của con người nhằm đạt được mục tiêu gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và định hướng cho hành động của chủ thể theo hướng tích cực nhất”. Con ngƣời làm việc đều mong muốn đƣợc khẳng định bản thân, đƣợc thành đạt, cũng nhƣ muốn có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống cá nhân. Khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mong muốn khác nhau.
Nhà quản trị cần có những tác động khác nhau đến mỗi ngƣời lao động. Động lực mạnh sẽ thúc đẩy con ngƣời hành động một cách tích cực, đạt hiệu quả cao và ngƣợc lại. - Nhu cầu: Nhu cầu là những đòi hỏi, mong ƣớc của con ngƣời xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhƣ: tâm sinh lý, xã hội.Nó xuất phát từ trạng thái tâm 2 lý khi con ngƣời cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về cái gì đó, từ đó, thúc đẩy họ có những hành động để đạt đƣợc những đòi hỏi, mong ƣớc đó. Nhu cầu là một yếu tố tồn tại vĩnh viễn trong bất kỳ chế độ xã hội nào từ trƣớc đến này của loài ngƣời.
Để tồn tại và phát triển, con ngƣời cần có những điều kiện nhất định nhƣ ăn, mặc, ở, vui chơi, giải trí. Chính những điều kiện đó tạo ra các nhu cầu và con ngƣời tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của mình. Khi xã hội phát triển, hệ thống nhu cầu của con ngƣời ngày càng phong phú và đa dạng. Có rất nhiều loại nhu cầu khác nhau nhƣ: nhu cầu vật chất - nhu cầu tinh thần; nhu cầu thiết yếu - nhu cầu không thiết yếu; Khi nhu cầu này đƣợc thỏa mãn, lập tức xuất hiện các nhu cầu khác cao hơn và con ngƣời sẽ có những hành động để thỏa mãn các nhu cầu này.
Sự thỏa mãn nhu cầu chính là việc nhu cầu đã đƣợc thỏa mãn về cơ bản. Giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu có một khoảng cách, khoảng cách này sẽ tạo động lực thúc đẩy con ngƣời hành động. Tuy nhiên, nhu cầu không phải là động lực trực tiếp thôi thúc con ngƣời hành động mà chính là lợi ích mà họ nhận đƣợc mới là động lực chính thúc đẩy con ngƣời. - Lợi ích: Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời trong một điều kiện nhất định đƣợc biểu hiện trƣớc, trong và sau quá trình lao động.
Mức độ thỏa mãn nhu cầu càng lớn thì lợi ích càng cao và ngƣợc lại (Trần Xuân Cầu, 2017). Lợi ích chính là tất cả cá giá trị vật chất và tinh thần mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ tổ chức, mà biểu hiện chính là tiền lƣơng, tiền thƣởng, các phúc lợi và dịch vụ khác, điều kiện và môi trƣờng làm việc thuận lợi, việc làm ổn định cho ngƣời lao động,. từ đó, có thể thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời. Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì không có lợi ích, lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu và nhu cầu chính là nội dung của lợi ích.
Tƣơng ứng với nhu cầu vật chất thì có lợi ích vật chất và 3 với nhu cầu tinh thần thì có lợi ích tinh thần. Những lợi ích vật chất nhƣ tiền lƣơng, tiền thƣởng, các phúc lợi và dịch vụ,.là những biểu hiện đảm bảo nhu cầu tồn tại và phát triển thể con ngƣời. Còn những lợi ích tinh thần nhƣ điều kiện và môi trƣờng làm việc thuận lợi, việc làm ổn định, đƣợc tôn trọng, quan tâm,. là những biểu hiện thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, xã hội của con ngƣời.
Khi nhu cầu xuất hiện, con ngƣời sẽ có hành động để thỏa mãn nhu cầu và kết quả của hành động đó là con ngƣời nhìn thấy lợi ích mà họ sẽ có đƣợc. Lợi ích - cái mà họ có đƣợc - chính là động lực quan trọng thúc đẩy ngƣời lao động làm việc. Lợi ích càng lớn thì động lực thúc đẩy con ngƣời hành động càng mạnh và ngƣợc lại lợi ích càng bé thì động lực sẽ yếu đi thậm chí bị triệt tiêu. Do đó, nhu cầu của con ngƣời tạo ra động cơ lao động song chính lợi ích của họ mới là động lực trực tiếp thúc đẩy họ làm việc hăng say và có hiệu quả cao.
Nhƣng chỉ khi có nhu cầu, có sự mong ƣớc về điều gì đó con ngƣời mới có ý muốn hành động đạt đƣợc nó và đạt đƣợc nhƣ thế nào, lợi ích ra sao mới tạo động lực thúc đẩy họ hành động một cách có hiệu quả. - Động cơ: “Động cơ lao động của người lao động xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu ăn, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng” (Nguyễn Vân Thùy Anh, 2018). Động cơ lao động của mỗi cá nhân khác nhau. Với ngƣời lao động có động cơ lao động cao, họ sẽ cố gắng nhiều hơn trong công việc và sẽ có năng suất, chất lƣợng cao và ngƣợc lại, khi không có hoặc có ít động cơ lao động, năng suất hiệu quả công việc sẽ thấp.
Tạo động lực lao động, động lực làm việc cho động “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” (Nguyễn Vân Thùy Anh, 2018). Hay “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động 4 hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức” (Vũ Thu Uyên, 2018). Tạo động lực lao động đƣợc hiểu là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của ngƣời lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hƣớng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn. Tạo động lực làm nảy sinh động lực trong mỗi doanh nghiệp.
Các nhà quản trị trong tổ chức muốn phát triển doanh nghiệp mình vững mạnh thì phải vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc để đóng góp cho tổ chức. Vấn đề quan trọng của tạo động lực là hiểu đƣợc nhu cầu của ngƣời lao động, để từ đó có biện pháp kích thích, tạo ra động lực cho ngƣời lao động hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc. Tạo động lực làm việc cho lao động đƣợc hiểu là tất cả những chính sách, biện pháp, quy định của nhà quản lý đối với nhân viên nhằm thúc đẩy sự khao khát, tự nguyện của nhân hoàn thành công việc, cống hiến cho công ty(Vũ Thu Uyên, 2018). thức là động lực bên ngoài và động lực bên trong - Động lực bên ngoài Là những yếu tố bên ngoài tác động đến hành động của nhân viên nhằm mục đích hoàn thành nhiệm vụ, tăng hiệu suất làm việc của nhân viên.
Những tác nhân đó thƣờng là phần thƣởng hoặc hình phạt. Phần thƣởng kích thích nhân viên phấn đấu hoàn thành mục tiêu, thƣờng nhân tố này giúp tạo môi trƣờng làm việc có tính cạnh tranh và thúc đẩy. Kết quả đạt đƣợc có thể lớn hơn mục tiêu đề ra, tạo môi trƣờng cho nhân viên làm việc và sáng tạo, tìm ra những nhân viên có năng lực và tinh thần làm việc cao. Hình phạt sẽ thúc đẩy nhân viên làm việc để không bị phát.
Công ty nào cũng có quy định và hình thức xử phạt tùy theo mức độ, nhân tố này giúp tạo môi trƣờng làm việc nghiêm túc, kỷ luật. Những nhân viên có tinh thần và thái độ làm việc không tốt sẽ sớm bị đào thải. 5 - Động lực bên trong Là những nhân tố bên trong của nhân viên thúc đẩy tinh thần làm việc của họ. Thƣờng động lực bên trong bắt nguồn từ sự thỏa mãn, yêu thích công việc mà họ đang làm, từ sự hƣng phấn, thích thú khi hoàn thành công việc và mong muốn đƣợc cống hiến, đóng góp cho công ty nơi họ đang làm việc.
Động lực bên trong có hiệu quả hơn động lực bên ngoài vì đó là yếu tố xuất phát từ bên trong của nhân viên, ổn định khác với động lực đƣợc tác động từ bên ngoài mang tính đối phó với tình huống. Sự cần thiết phải tạo động lực cho người lao động tại doanh nghiệp Trƣớc hết, con ngƣời ai cũng có nhu cầu, từ các nhu cầu vật chất hằng ngày đến các nhu cầu tinh thần và họ lao động, làm việc để thỏa mãn những nhu cầu đó. Khi các nhu cầu đƣợc thỏa mãn một cách tƣơng đối, mà cụ thể chính là lợi ích họ nhận đƣợc, đó là tất cả các giá trị vật chất và tinh thần mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ tổ chức (tiền lƣơng, tiền thƣởng, các phúc lợi và dịch vụ, điều kiện và môi trƣờng làm việc thuận lợi, việc làm ổn định cho ngƣời lao động,.) có thể thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời. Lợi ích mà ngƣời lao động nhận đƣợc tƣơng xứng với những gì họ làm, họ cống hiến cho tổ chức thì mới tạo ra động lực lao động mạnh mẽ đối với ngƣời lao động.