Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho người lao động trong tổ chức - Chương 2: Thực trạng tạo động lực cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Kạn - Chương 3: Đề xuất một số giải pháp tạo động lực cho người lao động tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Kạn 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Động lực lao động và sự cần thiết phải tạo động lực cho ngƣời lao động 1. Các khái niệm cơ bản 1. Động lực “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn”[14, tr.
“Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” [14, tr. Cho dù là cố gắng tỏ ra nổi trội trong công việc, người ta cũng chỉ hành động do bị điều khiển hoặc được động viên bởi chính bản thân hay từ các nhân tố bên trong. Là một nhà quản lý thì không thể không quan tâm đến điều này được, bởi lẽ kết quả làm việc được xem như là một hàm số của năng lực và động lực làm việc.
Năng lực làm việc phụ thuộc vào sự giáo dục, kinh nghiệm, kỹ năng được huấn luyện và cải thiện năng lực làm việc thường diễn ra chậm sau một quãng thời gian. Tuy nhiên, động lực lại không như vậy, động lực cần phải thường xuyên duy trì, điều này đòi hỏi nhà quản lý phải hiểu thấu đáo và ứng dụng đúng cách các biện pháp tạo động lực. Đây là một vấn đề được quan tâm rất nhiều ở Việt Nam trong những năm gần đây. Vai trò ngày càng lớn của nguồn nhân lực càng được khẳng định khi Việt Nam gia nhập WTO, các công ty nước ngoài tiến vào Việt Nam kéo theo nhu cầu về nhân lực trình độ cao tăng lên.
Khi bàn về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản lý thống nhất ở một số điểm sau đây: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. 9 - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân, điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. - Trong trường hợp cá nhân khác không đổi, động lực sẽ dẫn đến năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến tăng năng suất và hiệu quả công việc.
Bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. - Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất hoặc suy giảm động lực thì sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức. Động lực của người lao động chịu tác động và ảnh hưởng của nhiều nhân tố.
Các nhân tố đó có thể phân thành 3 nhóm như sau: Nhóm nhân tố thuộc về người lao động, bao gồm: + Thái độ, quan điểm của người lao động trong công việc và đối với tổ chức. + Nhận thức của người lao động về giá trị và nhu cầu cá nhân. + Năng lực và nhận thức về năng lực của bản thân người lao động. + Đặc điểm tính cách của người lao động.
Nhóm nhân tố thuộc về công việc, bao gồm: + Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp. + Mức độ chuyên môn hóa của công việc. + Mức độ phức tạp của công việc. + Sự mạo hiểm và mức độ rủi ro của công việc.
+ Mức độ hao phí về trí lực. Nhóm nhân tố thuộc về tổ chức, bao gồm: + Mục tiêu, chiến lược của tổ chức. + Văn hóa của tổ chức. + Quan hệ nhóm.
10 + Các chính sách liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động, nhất là các chính sách về quản trị nguồn nhân lực. Các nhân tố trên tác động theo những cách thức khác nhau, theo nhiều cung bậc khác nhau tùy thuộc vào tình hình và đặc điểm của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, nhà quản lý cần nắm bắt được sự tác động của các nhân tố này để có những thay đổi kịp thời những biện pháp sản xuất và quản lý nhằm tạo động lực cho người lao động, phát triển doanh nghiệp của mình. Khái niệm tạo động lực “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [14, tr.
Tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của nhà quản lý. Một khi người lao động có động lực làm việc, thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Xét theo quan điểm nhu cầu, quá trình tạo động lực của người lao động bao gồm các bước sau: Nhu cầu Sự Các Hành Nhu cầu Giảm không căng động vi tìm được thỏa căng được thỏa thẳng cơ kiếm mãn thẳng mãn Nhu cầu không được thỏa mãn tạo ra sự căng thẳng, và sự căng thẳng thường kích thích những động cơ bên trong các cá nhân. Những động cơ này tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm có được các mục tiêu cụ thể mà, nếu đạt được, sẽ thỏa mãn nhu cầu này và dẫn đến giảm căng thẳng.
Các nhân viên được tạo động lực thường ở trong tình trạng căng thẳng, để làm dịu sự căng thẳng này họ tham gia vào hoạt động. Mức độ căng thẳng càng lớn thì càng cần phải có hoạt động để làm dịu căng thẳng. Vì vậy, khi thấy các nhân viên làm việc chăm chỉ trong một hoạt động nào đó, có thể kết luận rằng họ bị chi phối bởi một sự mong muốn đạt được một mục tiêu nào đó mà họ cho là có giá trị. 11 Quá trình thỏa mãn nhu cầu được diễn ra theo ba giai đoạn tương xứng ba trạng thái cảm xúc sau: + Giai đoạn thứ nhất: Đây là giai đoạn thiếu thốn, mất cân bằng trong cơ thể và tâm hồn để giải tỏa và lấy lại cân bằng buộc con người lao động phải hoạt động.
+ Giai đoạn thứ hai: Là giai đoạn con người đã có được đối tượng nhu cầu để thỏa mãn và chiếm được chúng. Họ cảm thấy thoải mái dễ chịu, phấn khởi… + Giai đoạn thứ ba: Đây là giai đoạn nhu cầu con người đã được thỏa mãn hoàn toàn đi đến bão hòa. Một mặt họ nẩy sinh tư tưởng chán nản đối với đối tượng cũ và tạo ra mất cân bằng. Và sự mất cân bằng này lại là động lực thúc đẩy con người hoạt động.
Sự cần thiết phải tạo động lực trong lao động Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, muốn đạt được năng suất lao động cao, hiệu quả sản xuất tốt thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài những yếu tố như trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp ra thì vấn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động. Để tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực cho người lao động hiệu quả. Thực hiện tốt các biện pháp tạo động lực cho người lao động sẽ làm dịu đi những căng thẳng không cần thiết, tăng cường sự hấp dẫn của tiền lương, tiền thưởng….
Người lao động sẽ hăng hái làm việc, gắn bó với tổ chức, sẵn sàng cống hiến hết mình cho tổ chức. Vai trò của hoạt động tạo động lực được xem xét trên cả 2 khía cạnh: người lao động và doanh nghiệp. - Đối với người lao động: Tạo động lực cho người lao động giúp cho người lao động có nhiều sáng kiến, sáng tạo trong công việc. Người lao động làm việc một cách hăng say, nhiệt tình, có hiệu quả và nâng cao năng suất lao động.
- Đối với doanh nghiệp: Thực tế đã cho thấy “Năng suất làm việc = Năng lực + Động lực làm việc”. Điều đó cũng có nghĩa việc quản lý và đánh giá nhân 12 viên cần dựa trên cơ sở chú trọng vào động lực làm việc. Động lực làm việc là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố tác động đến người lao động, nếu động lực làm việc lớn sẽ làm tăng năng suất của người lao động, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp. Không chỉ trong lao động mới cần động lực mà ngay cả cuộc sống hàng ngày con người cũng rất cần có động lực sống, một người nếu không có động lực sống sẽ không thể tồn tại.
Trong kinh tế động lực có vai trò rất lớn, nhà nước muốn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài bằng cách tạo môi trường đầu tư thông thoáng, đó cũng chính là một trong những động lực thu hút đầu tư nước ngoài. Trong doanh nghiệp việc tạo động lực xuất phát từ mục tiêu tạo động lực cho người lao động. Tạo động lực để người lao động làm việc chăm chỉ hơn, cống hiến hết mình và gắn bó với doanh nghiệp lâu dài. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào động lực làm việc của người lao động, sự cống hiến, đóng góp công sức, trí tuệ của những người tâm huyết, hết lòng vì doanh nghiệp.
Không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại và phát triển với những người lao động làm việc hời hợt, tâm lý luôn luôn chán nản, chán công việc. Chính vì thế bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải tạo động lực cho người lao động. Tạo động lực cho người lao động không những chỉ kích thích tâm lý làm việc cho người lao động mà nó còn tăng hiệu quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xây dựng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường… 1.
Học thuyết hệ thống hai yếu tố của F.