Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực lao động cho nguồn nhân lực trong một tổ chức. Chương 2: Đánh giá thực trạng về động lực và hoạt động tạo động lực lao động tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Cầu Giấy. Chương 3: Giải pháp tăng cường tạo động lực lao động cho nguồn nhân lực tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Cầu Giấy. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG MỘT TỔ CHỨC 1.
Khái niệm về nguồn nhân lực của tổ chức, động lực lao động và tạo động lực lao động. Nguồn nhân lực của tổ chức Nguồn nhân lực của tổ chức là toàn bộ nguồn lực của cán bộ, công nhân viên lao động, nhà quản lý trong tổ chức đó đặt mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực mỗi cá nhân thành nguồn lực tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu của mỗi thành viên.2 Động lực lao động a. Khái niệm Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích.
Vì vậy các nhà quản lý trong tổ chức luôn tìm câu trả lời cho câu hỏi là tại sao người lao động lại làm việc. Để có kết quả, họ phải tìm hiểu về động lực lao động của người lao động Giáo trình Quản trị Nhân lực của ThS.Nguyễn Vân Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, 2013, NXB ĐH KTQD định nghĩa “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó.” Giáo trình hành vi tổ chức của PGS. TS Bùi Anh Tuấn - TS. Phạm Thúy Hương , 2009, NXB ĐH KTQD: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Như vậy, về bản chất là hai khái niệm trên hoàn toàn là tương đồng và theo ý kiến của tác giả thì định nghĩa theo giáo trình hành vi tổ chức của PGS. TS Bùi Anh 9 Tuấn- TS Phạm Thúy Hương, 2009, NXB ĐH KTQD là đầy đủ rõ nghĩa nhất. Từ khái niệm trên thì tác giả cũng đi sâu đánh giá biểu hiện của động lực lao động trong tổ chức để tìm ra giải pháp tăng cường tạo động lực lao động cho nguồn nhân lực.
Vấn đề quan trọng của động lực là mục tiêu bản thân người lao động nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của họ, tạo cho họ sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc, tính sáng tạo, thỏa mãn, kỳ vọng bản thân thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát, tác động đến động lực lao động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết nhu cầu, lợi ích và động cơ của họ. Bản chất của động lực lao động Từ khái niệm về động lực lao động ở trên ta nhận thấy được động lực lao động có những bản chất sau: Thứ nhất, Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung mà không gắn với công việc cụ thể nào. Thứ hai, Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân.
Điều đó có nghĩa là chỉ có động lực tiêu cực hay tích cực, động lực yếu kém hay động lực mạnh mẽ. Thứ ba, Động lực lao động có vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Điều kiện để tăng năng suất lao động phụ thuộc vào kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ và các điều kiện khác, nhưng dù các điều kiện đó có đảm bảo nhưng người lao động không có động lực thì năng suất lao động càng khó có thể nâng cao hiệu suất. Thứ tư, Người lao động không có động lực lao động thì vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ không mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức 1. Tạo động lực lao động. Khái niệm “Tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có 10 được động lực để làm việc” - Giáo trình hành vi tổ chức của PGS.TS Bùi Anh Tuấn- TS. Phạm Thùy Hương, 2009, NXB ĐH KTQD Ta có sơ đồ biểu hiện mối quan hệ giữa động lực lao động và tạo động lực lao động: Nhà quản lý Chính sách, biện pháp, hoạt động tạo động lực lao động - Tiền lương - Công việc - Môi trường Động lực lao động - Cơ hội Như vậy nếu động lực lao động là những nhân tố xuất phát từ bên trong người lao động thì tạo động lực lại là hoạt động của nhà quản lý làm sao cho người lao động có động lực làm việc.
Động lực lao động được coi là đầu ra của quá trình tạo động lực. Để tạo được động lực nhà quản lý phải bỏ chi phí: chi phí đó các chi phí vật chật là tiền lương, tiền thưởng của người lao động và các hoặc các chi phí phi vật chất như môi trường quan hệ công việc, điều kiện làm việc, tính hấp dẫn của công việc, cơ hội thăng tiến, tuyển dụng, đào tạo… Như vậy có thể thấy tạo động lực là một quá trình liên tục, tốn nhiều chi phí và khá phức tạp. Bởi vì không phải bỏ tiền ra là nhà quản lý có thể có được động lực làm việc của người lao động, việc thiết kế công việc và xây dựng môi trường làm việc và văn hoá tổ chức không phải là dễ dàng, không phải bao giờ cũng kích thích được người lao động. Chính điều đó làm nên tính nghệ thuật của tạo động lực lao động nói riêng và quản trị nhân lực nói chung b.
Sự cần thiết phải tạo động lực Tạo động lực lao động chính là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng suất lao động cá nhân, nâng cao tinh thần làm việc, trách nhiệm trong công việc. Vì khi người lao động có động lực lao động thì công việc sẽ có năng suất lao động cao hơn. Đối với tổ chức tăng năng suất lao động là yếu tố quyết định tăng sản lượng lượng, giảm giá thành, tăng doanh thu đảm bảo cho sự phát triển. Còn đối với người 11 lao động, tăng năng suất lao động cá nhân đưa lại cho họ một thu nhập cao hơn, khiến họ nỗ lực cao hơn trong lao động, Tạo động lực làm việc còn giúp kích thích sự sáng tạo của người lao động.
Khi công tác tạo động lực lao động tốt thì người lao động sẽ có đầy đủ điều kiện vật chất và tinh thần để hoàn thành công việc và phát huy tính sáng tạo trong lao động. Bên cạnh đó tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, khi đó người lao động đảm bảo hài lòng với công việc hiện tại. Tạo động lực làm việc sẽ giúp tổ chức thu hút và gìn giữ được một lực lượng lao động giỏi, trung thành với tổ chức. Bởi những người lao động giỏi cần có một môi trường làm việc tốt, thoải mái để họ có thể phát huy tối đa khả năng bản thân, được ghi nhận đúng đắn những đóng góp cá nhân trong tổ chức.
Các học thuyết tạo động lực Từ trước tới nay, đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề động lực và tạo động lực lao động. Họ có những biện pháp, những cách tiếp cận khác nhau và đưa ra những học thuyết khác nhau về vấn đề này. Tuy nhiên, tất cả các học thuyết này đều có một kết luận chung nhất. Mỗi học thuyết đều có những nhận định riêng, chúng đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề tạo động lực lao động.
Trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả chọn 3 học thuyết làm cơ sở lý luận và là tiền đề để nghiên cứu là: Học thuyết nhu cầu của Maslow, Học thuyết công bằng của J. Adams và Học thuyết hai yếu tố. Hệ thống nhu cầu của Maslow Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn. Năm 1943, ông phát triển một trong các thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đó là thuyết về hệ thống nhu cầu của con người. Khi nghiên cứu về đông lực lao động, Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thoả mãn. Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao. 12 Trong năm loại nhu cầu trên nhu cầu về sinh lý là nhu cầu của cơ thể con người để sinh tồn… Đó là các nhu cầu: ăn, mặc, ở, đi lại và một số nhu cầu cơ bản khác.
Trên nhu cầu sinh lý là nhu cầu an toàn, nhu cầu an toàn là như cầu được ổn định, chắc chắn cả về thể chất lẫn tinh thần. Con người muốn được bảo vệ, bảo vệ chống lại những điều bất chắc hoặc nhu cầu tự mình bảo vệ. Hai nhu cầu này Maslow gọi là nhu cầu bậc thấp. Nhu cầu quan hệ xã hội, thể hiện con người mong muốn thuộc về một tổ chức nào đó, và cũng là nhu cầu về tình cảm, yêu thương, con người luôn mong muốn được giao lưu, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình…Maslow cho rằng đây là dấu vết của cuộc sống bầy đàn trước kia của loài người.
Nhu cầu tiếp theo là nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu muốn được người khác tôn trọng và tự tôn trọng mình. Nhu cầu cao nhất là nhu cầu tự hoàn thiện là nhu cầu muốn được trưởng thành và phát triển, tự do sáng tạo, nâng cao hiểu biết về cuộc sống, nghề nghiệp…. Theo Maslow: Về nguyên tắc, khi mỗi nhu cầu trong số các nhu cầu đó được thoả mãn thì nhu cầu tiếp theo sẽ trở nên quan trọng nhất.