CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan về nhân sự 1.1 Khái niệm nhân sự Có nhiều định nghĩa về nhân sự từ những khía cạnh khác nhau. Nhân sự là một trong các nguồn lực quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào. (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2018, tr. Trong một doanh nghiệp có nhiều nguồn lực khác nhau như vật lực, tài lực, nguồn lực về công nghệ và nguồn lực về thông tin.
Nhân sự được hiểu là nguồn lực về con người. Nếu coi cả doanh nghiệp như một cơ thể hoàn chỉnh thì phần máy móc, công nghệ được coi là phần xương của doanh nghiệp và nhân sự chính là phần mềm để tạo ra một cơ thể hoàn chỉnh. Nhân sự khác với các nguồn lực khác ở chỗ đó là quá trình vận động, phát triển nhân sự chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sinh lão bệnh tử), các yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp.) và hoạt động tâm lý trong chính bản thân họ. Những điều ấy khiến cho nhân sự là một khái niệm phức tạp cần được nghiên cứu dưới nhiều góc độ.
Nhân sự với cách hiểu là một yếu tố trực tiếp tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội, đó là khả năng lao động của xã hội bao gồm những người có khả năng lao động. Nhân sự là tổng thể các tiềm năng con người bao gồm có trí lực và thể lực và nhân cách của con người được huy động vào quá trình lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2018, tr. Nhân sự được nghiên cứu về số lượng và chất lượng. Số lượng nhân sự được thể hiện qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng.
Các chỉ tiêu này liên quan chặt chẽ tới tốc độ tăng dân số. Chất lượng nhân sự liên quan tới các yếu tố cấu thành lên bản chất bên trong của nhân sự (sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật. Chất lượng nhân sự là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân sự về mặt toàn bộ, về mặt đồng bộ các loại, phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội (Đỗ Văn Phức, 2007, tr. Vậy nhân sự là một nguồn lực quan trọng trong các yếu tố sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm tất cả các cá nhân có khả năng lao động theo quy 7 định của nhà nước và những người thực tế tham gia lao động trong các ngành kinh tế quốc dân.
Vì vậy, doanh nghiệp cần khai thác nhân sự một cách hợp lý để nâng cao hiệu quả cho quá trình sản xuất kinh doanh.2 Khái niệm về quản trị nhân sự Quản trị nhân sự là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức. Đây là một hoạt động quản trị trong quá trình quản lý doanh nghiệp. Quản trị nhân sự bao gồm các công việc kế hoạch hoá , tổ chức, chỉ huy, phối hợp, thu hút, sử dụng và phát triển nhân sự. (Nguyễn Hữu Thân, 2008, tr.17) Thực chất quản trị nhân sự là công tác quản lý con người trong phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự ứng xử của tổ chức đối với người lao động trong các công việc.
Nói cách khác thì quản trị nhân sự chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào bộ máy của tổ chức giúp cho tổ chức hoạt động đạt được mục tiêu chung. Trong quá trình hoạt động vì mục tiêu chung người lao động sử dụng các nguồn lực của bản thân mình để thực hiện các công việc được giao và họ được trả lương và được nhà quản trị giải quyết các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ lao động và xã hội. (Nguyễn Hữu Thân, 2008, tr.18) Quản lý nhân sự được hiểu là những tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý nhân sự đến các khách thể quản lý nhân sự nhằm đạt được các mục tiêu quản lý nhân sự đã đề ra.10) Quản lý nhân sự là lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng, thần kinh, bắp thịt,.) giữa con người và các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ, đối tượng lao động, năng lượng,.) trong quá trình tạo ra của cải vật chất, tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của con người nhằm duy trì, bảo vệ, sử dụng và phát triển tiềm năng vô hạn của con người. Không một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu quản lý nhân sự.
Hay nói cách khác, mục tiêu 8 của bất kỳ tổ chức nào cũng là nhằm sử dụng một cách có hiệu quả nhân sự của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra.2 Tổng quan về quản trị nhân sự 1.1 Vai trò của quản trị nhân sự Với việc coi nhân sự là một tài sản quý báu của doanh nghiệp thì quản trị nhân sự có vai trò là: Quản lý chính sách và đề ra chính sách liên quan đến tài nguyên nhân sự doanh nghiệp : Bộ phận quản trị nhân sự đóng vai trò chủ yếu trong việc quản lý chính sách, nhằm đảm bảo rằng chính sách do Nhà nước quy định được thực hiện đúng và đầy đủ trong doanh nghiệp. Bộ phận quản trị nhân sự còn đề ra và giải quyết các chính sách trong phạm vi của doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Chính sách nhân sự được thực hiện thông qua việc cố vấn cho người đứng đầu tổ chức trong việc đề ra và giải quyết những vấn đề liên quan đến con người trong doanh nghiệp. (Nguyễn Hữu Thân, 2008, tr.27) Tư vấn cho các bộ phận nhân sự trong doanh nghiệp : Một bộ phận nào đó trong doanh nghiệp có thể có vấn đề công nhân bỏ việc, bộ phận có tỷ lệ công nhân vắng mặt cao, bộ phận khác có vấn đề thắc mắc về chế độ phụ cấp… Trong tất cả các vấn đề trên, người phụ trách về nhân sự và nhân viên bộ phận nhân sự nắm vững chính sách nhân sự của Nhà nước và doanh nghiệp đảm nhận việc giải quyết các vấn đề khó khăn cụ thể và tư vấn cho người đứng đầu doanh nghiệp giải quyết những vấn đề phức tạp.
Như vậy bộ phận quản trị đóng vai trò tư vấn cho các nhà quản trị. (Nguyễn Hữu Thân, 2008, tr.27) Cung cấp các dịch vụ: Vai trò cung cấp các dịch vụ tuyển dụng, đào tạo và phúc lợi cho các bộ phận khác của quản trị nhân sự. Chẳng hạn như quản trị nhân sự giúp đỡ các bộ phận khác trong việc tuyển mộ trắc nghiệm và tuyển chọn nhân viên. Do tính chất chuyên môn hóa nên quản trị nhân sự thực hiện hay tư vấn phần lớn công việc nhân sự sẽ có hiệu quả hơn các bộ phận khác đảm nhiệm.
Thông thường mấy khi các bộ phận khác đứng ra trực tiếp làm các chức năng của quản trị nhân sự, các bộ phận khác cũng nhờ bộ phận quản trị nhân sự cung cấp các dịch vụ liên quan 9 đến việc quản trị nhân viên. Quyết định việc tuyển chọn nhân việc trong điều kiện cơ chế thị trường là do các bộ phận chuyên môn quyết định, nhưng để có đầy đủ các thông tin cho việc quyết định là do bộ phận dịch vụ quản trị nhân sự cung cấp. (Nguyễn Hữu Thân, 2008, tr.28) Kiểm tra nhân viên: Bộ phận quản trị nhân sự đảm nhận chức năng kiểm tra quan trọng bằng cách giám sát các bộ phận khác đảm bảo việc thực hiện các chính sách, các chương trình thuộc về nhân sự đã đề ra hay không. Kiểm tra các thủ tục, kiểm tra các bộ phận khác đánh giá thành tích nhân viên có đúng không, hay có bỏ sót 1 phần thành tích nào đó hay không.
Kiểm tra thông qua việc đo lường, đánh giá, phân tích các đơn khiếu nại, các tai nạn lao động, các kỳ hạn chấm dứt hợp đồng, lý do vắng mặt của nhân viên, các biện pháp kỷ luật, thúc đẩy các bộ phận khác quản trị tài nguyên nhân sự có hiệu quả hơn. Các cuộc kiểm tra các bộ phận quản trị nhân sự phải được thực hiện bằng văn bản thông báo các bộ phận được kiểm tra biết và báo cáo lên nhà quản trị cấp trên của doanh nghiệp. (Nguyễn Hữu Thân, 2008, tr.2 Tầm quan trọng của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp Sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: vốn, cơ sở vật chất, tiến bộ khoa học kỹ thuật, người lao động. Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau và tác động lại với nhau.
Những yếu tố như: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể. Vì vậy có thể khẳng định rằng quản trị nhân sự có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2018, tr.8) Con người, với khả năng sáng tạo, lao động cần cù siêng năng của mình, đã phát minh ra những dụng cụ từ ban đầu là thô sơ cho đến phát triển công nghệ cao, khoa học kỹ thuật cao như ngày nay đã phục vụ được nhu cầu bản thân và phát triển xã hội. (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2018, tr.9) 10 Quản trị nhân sự góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động.
Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động kinh tế nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho người lao động hưởng thành quả do họ làm ra. (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2018, tr.9) Quản trị nhân sự gắn liền với mọi tổ chức, bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân sự. Quản trị nhân sự là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức. Quản trị nhân sự hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ cấp quản trị nào cũng có nhân viên dưới quyền, vì thế đều phải có quản trị nhân sự.
Cung cách quản trị nhân sự tạo ra bầu không khí văn hoá cho một doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp. (Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân, 2018, tr.