CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN NGÀNH Y TẾ 1. Động lực và tạo động lực làm việc 1. Khái niệm về động lực Động lực là một thuật ngữ dành cho nhiều lĩnh vực khác nhau với sự khởi điểm là khái niệm dành riêng cho Vật lý học mô tả sự tác động của các tác nhân vật lý. Đến nay, động lực là khái niệm được mở rộng cho nhiều lĩnh vực trong cuộc sống đặc biệt là khoa học xã hội và hành vi.
Dựa trên cơ sở các ngành khoa học: - Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, động lực chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. - Từ góc độ tâm lý học, động lực được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thoả mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó. Dựa trên quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước: - Theo Mitchel: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” [24, tr 40]. - Theo giáo trình hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [32, tr 81]. - Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm –Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [10, tr 25]. 10 Như vậy, mặc dù có nhiều các tiếp cận và quan niệm về động lực làm việc khác nhau, nhưng khi nghiên cứu về động lực cần thống nhất một số điểm sau đây: Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa không có động lực làm việc chung cho mọi người lao động.
Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực làm việc không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một người lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ.
Động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực làm việc như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao dộng chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Qua một số quan điểm nêu trên, có thể hiểu động lực theo cách khái quát nhất như sau: “Động lực là cái thúc đẩy hành động nhằm đạt được mục tiêu gắn liền với việc thoả mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và định hướng cho hành động của chủ thể”.
Vai trò của động lực làm việc Xét về bản chất, động lực làm việc là trạng thái bên trong của con người, ta có thể nhận biết động lực làm việc của người lao động thông qua những biểu hiện như: thái độ, hành vi, qua nhu cầu về vật chất và tinh thần của họ. Động lực làm việc luôn gắn liền với một công việc, một tổ chức, một môi trường làm việc và một cá nhân cụ thể. Điều này có nghĩa, không có động lực chung chung, mà với mỗi cá nhân khác nhau, ở vị trí công việc mà họ đảm nhận khác nhau, điều kiện công việc khác nhau thì thái độ khác nhau và bản thân mỗi người lao động sẽ có những nỗ lực 11 làm việc khác nhau. Động lực làm việc mang tính tự nguyện.
Bản chất của con người là thích chủ động, khi công việc mang lại hứng thú, phù hợp sở thích hoặc khi họ thấy thoải mái thì sẽ nỗ lực làm việc hơn. Động lực làm việc có thể thay đổi, có thể giai đoạn này cao, giai đoạn sau lại thấp, vai trò của người quản lý chính là có những cách thức tác động tới người lao động để duy trì động lực làm việc một cách ổn định, bền vững và trong khuôn khổ, tăng cường tính tự nguyện của người lao động. Động lực làm việc là nhân tố quan trọng dẫn đến tăng năng suất lao động và sản xuất có hiệu quả, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, động lực làm việc giống như một sức mạnh vô hình từ bên trong người người thúc đẩy họ làm việc hăng say hơn, nỗ lực hơn (tuy nhiên, động lực làm việc là một nhân tố chứ không phải là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động). Vì vậy, động lực làm việc của mỗi cá nhân đối với tổ chức đóng vai trò thúc đẩy sự nỗ lực, góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức, giúp cho tổ chức vận hành liên tục, đảm bảo việc thực thi những nhiệm vụ mà xã hội phân công cho tổ chức, giúp chính sách của Nhà nước được thực thi kịp thời, nhanh chóng.
Cá nhân có động lực làm việc sẽ giúp tổ chức củng cố và duy trì nguồn nhân lực chất lượng cao, vì mọi nỗi lực trong giải quyết công việc giúp bản thân người đó hoàn thiện hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng làm việc và mức độ, thời gian hoàn thành tốt công việc tốt hơn, ngắn hơn; từ đó cá nhân được nhà quản lý và các thành viên của tổ chức coi trọng và cảm thấy hài lòng với tổ chức, có nguyện vọng gắn bó với tổ chức nơi mình làm việc lâu dài. Khái niệm về tạo động lực làm việc Qua phân tích ở trên ta có thể thấy động lực làm việc xuất phát từ sự khát khao và tự nguyện nên khiến con người làm việc hăng say, giúp cho họ phát huy được những thế mạnh và tài năng tiềm ẩn bên trong và do đó họ có thể vượt qua được những thách thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Một người có động lực là khi người đó bắt tay vào làm việc mà không cần có một sự cưỡng bức hay bắt buộc nào khác. Khi đó, họ có thể đạt được những kết quả tốt hơn rất nhiều mà tổ chức đặt ra cho họ.
Một người có động lực làm việc là người làm việc tích cực, duy trì nhịp độ làm việc tích cực đó và có những quyết định, suy nghĩ sáng tạo trong công việc. 12 Động lực làm việc gồm có lực thúc đẩy bên trong, bên ngoài ảnh hưởng đến sự lựa chọn và mong muốn thực hiện một hành vi, một hành động nào đó. Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Lao động xã hội, Hà Nội – 2004, của tác giả Nguyễn Thành Độ và tác giả Nguyễn Ngọc Huyền thì: “Tạo động lực cho người lao động là tổng hợp các biện pháp quản lý nhằm tạo ra các động lực vật chất (thù lao lao động) và tinh thần cho người lao động” [9, tr 112]. Theo giáo trình Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội – 2008, của tác giả Hà Văn Hội: “Tạo động lực là hệ thống các phương pháp, chính sách, thủ thuật của nhà quản lý tác động đến người lao động” [18, tr 91].
Qua các khái niệm trên ta có thể hiểu: Tạo động lực làm việc có nghĩa là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của nhà quản lý tác động lên các cá nhân trong tổ chức, các hoạt động đó mang tính khuyến khích, động viên nhằm tác động vào nhu cầu của đối tượng quản lý để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo mục đích của tổ chức mong muốn đạt được một khao khát và tự nguyện. Các học thuyết về tạo động lực làm việc 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Sơ đồ 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow 13 - Maslow là nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950. Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích về cả thể chất lẫn tinh thần.
- Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Ông đã đem lại các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao. Nhu cầu sinh lý Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm… là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người. Nếu thiếu những nhu cầu này con người sẽ không tồn tại được.
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người. Nội dung của nhu cầu an ninh, an toàn: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự….