Chương 1: Giới thiệu đề tài - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận 8 Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chƣơng 1, tác giả đã giới thiệu tổng quan về nghiên cứu của đề tài. Trong chƣơng 2 này, luận văn trình bày các lý thuyết về cam kết tổ chức, đào tạo và phát triển, chế độ lƣơng và đãi ngộ cũng nhƣ hỗ trợ của ngƣời giám sát. Chƣơng này gồm hai phần chính sau đây: (1) các khái niệm, cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa các nhân tố cam kết tổ chức, đào tạo và phát triển, chế độ lƣơng và đãi ngộ cũng nhƣ hỗ trợ của ngƣời giám sát đến cam kết tổ chức và (2) mô hình nghiên cứu.1 Chế độ lƣơng và đãi ngộ (Compensation) Chế độ lƣơng và đãi ngộ là một thứ gì đó (chẳng hạn nhƣ tiền) đƣợc thanh toán hoặc bồi thƣờng thiệt hại đối với một dịch vụ.
(Theo định nghĩa tại http://www.com/compensation, ngày 16/02/2014) Việc bồi thƣờng có nghĩa là bất kỳ hình thức thanh toán trả cho một cá nhân thông qua một dịch vụ nào đó. Ngƣời trả thanh toán nhƣ một nhà tuyển dụng, ngƣời thực hiện dịch vụ là đại diện ngƣời lao động. Bồi thƣờng có thể đƣợc thực hiện thông qua việc chi trả một lƣợng tiền mặt, một mặt hàng, một dịch vụ hoặc một đặc ân. Tuy nhiên, nếu một nhân viên đƣợc trả trong bất kỳ hình thức nào không phải là tiền bạc, ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động phải đồng ý trƣớc khi dịch vụ đó đƣợc thực hiện.
Các gói bồi thƣờng phải đƣợc thiết kế để nó thúc đẩy, thực hiện phù hợp với mục tiêu của công ty. Gói bồi thƣờng thƣờng bao gồm một hỗn hợp các ƣu đãi ngắn hạn (bao gồm cả tiền lƣơng, tiền thƣởng hàng năm, quyền lợi và bổng lộc) và các ƣu đãi dài hạn. Các gói có thể bao gồm thỏa thuận thôi việc, sự thay đổi trong quy định kiểm soát (nếu công ty đƣợc mua lại) và lƣơng hƣu. 9 Chế độ lƣơng và đãi ngộ có một mối quan hệ mạnh mẽ và quan trọng đến cam kết tổ chức (Dockel, 2001).
Nhân viên luôn nhận thức rõ các vấn đề liên quan đến lƣơng và chế độ của mình khi so sánh với các nhân viên khác của bộ phận tƣơng tự và hoặc cùng công ty (trong nội bộ công ty) hoặc so sánh với các cá nhân khác cùng một công việc trong tổ chức khác. Nếu nhân viên đƣợc quan tâm đến thù lao, lợi ích, đánh giá hoạt động và hoạt động, họ càng ít ý định rời khỏi vị trí hiện tại (Pare và Tremblay, 2000). Nhân viên liên tục xem xét nếu lƣơng của họ vẫn là cạnh tranh (Dockel, 2001). Ngoài ra, có nghiên cứu gợi ý rằng tổ chức không nên chỉ dựa trên thù lao, ví dụ nhƣ, một chiến lƣợc duy trì mà chỉ tập trung vào điều kiện thù lao, lợi ích thì không có khả năng ủng hộ cam kết, lòng trung thành của nhân viên và cung cấp bất kỳ bảo đảm sự hài lòng duy trì.
Trong khi tập trung vào các gói lƣơng cạnh tranh thì tập trung giữ chân cán bộ tài năng rõ ràng là hiệu quả trong việc thể hiện động lực công việc, thực hành chiến lƣợc nhân sự giảm số lƣợng nhân viên (Chew, 2005). Cam kết bắt nguồn từ kinh tế và thực dụng có thể dẫn đến hiệu suất kém (Moynihan và cộng sự, 2000). Tiền lƣơng tăng sẽ làm tăng nhận thức cá nhân trong việc lựa chọn thay thế nhƣng không có tác động vào việc cải thiện sự liên kết của mục tiêu nhân viên với tổ chức (Iverson và Buttigieg, 1999).2 Đào tạo và phát triển (Training and development) Đào tạo là một quá trình giáo dục. Mọi ngƣời có thể tìm hiểu thông tin mới, học tập, củng cố kiến thức, kỹ năng hiện có và quan trọng nhất là có thời gian để suy nghĩ, xem xét những lựa chọn mới có thể giúp họ cải thiện hiệu quả của họ tại nơi làm việc.
Đào tạo hiệu quả là truyền đạt đƣợc thông tin có liên quan và hữu ích cho ngƣời tham gia và phát triển kỹ năng hành vi có thể đƣợc chuyển trở lại nơi làm việc.edu/offices/human_resources/training, ngày 17/01/2014) 10 Mục tiêu của đào tạo là để tạo ra một tác động kéo dài hơn thời gian kết thúc của việc đào tạo. Tập trung tạo ra các bƣớc hành động cụ thể, cam kết sự chú ý của ngƣời học, kết hợp các kỹ năng và ý tƣởng mới của họ trở lại nơi làm việc. Đào tạo là quá trình phát triển kỹ năng của các cá nhân và các nhóm. Nói chung, đào tạo liên quan đến trình bày và học tập các nội dung nhƣ một phƣơng tiện để tăng cƣờng phát triển kỹ năng và cải thiện hành vi tại nơi làm việc.
Phát triển tổ chức là một quá trình "phấn đấu để xây dựng năng lực để đạt đƣợc và duy trì một trạng thái mới mong muốn có lợi cho tổ chức, cộng đồng và thế giới xung quanh." (Trang web của Organizational Development Network) Quan điểm OD (Organizational Development) cho rằng việc kiểm tra môi trƣờng hiện tại, tình trạng hiện tại sẽ giúp mọi ngƣời trong đội, bộ phận, một phần của tổ chức xác định chiến lƣợc hiệu quả, từ đó cải thiện hiệu suất. Trong một số trƣờng hợp không có bất cứ điều gì "sai" ở thời điểm hiện tại, nhóm hoặc ngƣời quản lý chỉ đơn giản tìm kiếm cách để tiếp tục phát triển và tăng cƣờng mối quan hệ và hoạt động hiện tại. Trong tình huống khác, vấn đề cần phải đƣợc giải quyết. Quá trình OD nhằm mục đích tìm ý tƣởng và giải pháp hiệu quả để có thể quay trở lại nhóm với tình trạng hiệu suất cao.
Hai quá trình: đào tạo và phát triển tổ chức, thƣờng đƣợc kết nối chặt chẽ. Đào tạo có thể đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng tiện chủ động cho các kỹ năng chuyên môn nhằm ngăn chặn vấn đề phát sinh, một công cụ hiệu quả trong việc giải quyết thiếu sót của nhân viên. Phát triển tổ chức có thể đƣợc sử dụng để tạo ra các giải pháp cho các vấn đề tại nơi làm việc. Chƣơng trình phát triển đóng một vai trò quan trọng trong việc làm hài lòng, giúp giữ nhân viên.
Đào tạo đƣợc xem nhƣ đầu tƣ thiết yếu cao nhất trong vốn trí tuệ của tổ chức. Các tổ chức cần phải có một quá trình để khuyến khích, lập kế hoạch và đầu tƣ vào phát triển chuyên môn của nhân viên công nghệ cao (Dockel, 11 2001). Đào tạo, hỗ trợ đào tạo và động lực để học hỏi có ý nghĩa tích cực liên quan đến cam kết tổng thể và các loại của nó (cam kết tình cảm và cam kết quy phạm) (Ahmad và Bakar, 2003). Nhƣ vậy, đào tạo và phát triển đã nổi lên nhƣ một trong những biến độc lập quan trọng có mối quan hệ với cam kết tổ chức.3 Hỗ trợ của ngƣời giám sát (Supervisor support) Hỗ trợ của ngƣời giám sát đƣợc định nghĩa là mức độ mà các nhà lãnh đạo đánh giá cao những đóng góp của nhân viên và quan tâm đến phúc lợi của họ.
Một nhà lãnh đạo có sự hỗ trợ tốt là làm cho nhân viên cảm thấy mình đƣợc lắng nghe, có giá trị và đƣợc quan tâm. (theo http://www.com/2011/supervisor-support-a-key-ingredient-in-effective-leadership/ 18/10/2014) Trong điều kiện cụ thể, nhóm nghiên cứu đã xác định đƣợc các kết quả tích cực liên quan đến hỗ trợ của ngƣời giám sát cao, bao gồm: - Tăng sự hài lòng công việc - Phù hợp với ngƣời của tổ chức (mức độ cá nhân/tín ngƣỡng/giá trị phù hợp với văn hóa tổ chức) - Tăng hành vi công dân trong tổ chức (OCB) - Cải thiện nhận thức của nhân viên về hỗ trợ của tổ chức - Cải thiện mối quan hệ với nhân viên - Giảm căng thẳng công việc - Giảm xung đột công việc - gia đình - Giảm doanh thu (tác dụng phụ) 12 Nếu nhân viên cảm thấy có giá trị và đƣợc khen thƣởng trong tổ chức, họ sẽ thoải mái hơn, hài lòng và xem xét cam kết cảm xúc đối với tổ chức của họ. Hơn nữa, cam kết tổ chức đƣợc xác định là một yếu tố hỗ trợ kèm theo của nhân viên với tổ chức (Mowday, 1998). Hỗ trợ của ngƣời giám sát là quan trọng vì nó đảm bảo nhân viên đối phó với các điều kiện đòi hỏi và thực hiện những công việc một cách hiệu quả (George, Reed, Ballard, Colin và Fielding, 1993).
Nhân viên cần đƣợc thể hiện giá trị của họ và đƣợc đánh giá nhƣ trả lƣơng, khuyến mãi, sự ngƣỡng mộ, các hình thức hỗ trợ và truy cập thông tin mà họ có thể thực hiện công việc của họ một cách tốt hơn. Mức có đi có lại áp dụng cả hai bên: nhân viên và ngƣời sử dụng lao động đều mang lại kết quả có lợi. Tổ chức chịu trách nhiệm (về tài chính, đạo đức và hợp pháp) cho các hành động của ngƣời lao động. Nhân viên tin rằng tác động tiêu cực hay tích cực đối với họ đều là do sự đóng góp và phúc lợi của họ.
Theo Cropanzano và Greenberg (1997) hỗ trợ của tổ chức đƣợc thực hiện bởi các khía cạnh cấu trúc bao gồm các quy định và quyết định chính sách và triển khai liên quan đến ngƣời lao động; trong khi các khía cạnh xã hội bao gồm nhân viên đang đƣợc đối xử với sự tôn trọng và cung cấp cho họ thông tin làm thế nào để xác định kết quả cuối cùng. Nói chung giám sát đƣợc sử dụng cho các tổ chức, các nhân viên đều biết rõ rằng đánh giá của họ thƣờng đƣợc truyền đạt đến quản lý cấp trên và nhân viên góp phần vào nhận thức hỗ trợ của tổ chức (Kottke và Sharafinski, 1988; Malatesta, 1995; Rhoades và cộng sự, 2001; Shore và Tetrick năm 1991; Yoon, Han và Seo năm 1996; Yoon và Lim, 1999).4 Cam kết tổ chức (Organizational Commitment) Cam kết tổ chức đƣợc định nghĩa là mong muốn của nhân viên để duy trì trong tổ chức và phấn đấu cho việc áp dụng các mục tiêu và các giá trị của tổ chức đó (Morrow, 1983; 491; Randall và Cote 1991; 198). 13 Cam kết tổ chức đƣợc định nghĩa có liên quan đến sức mạnh của cá nhân gắn kết với một tổ chức riêng biệt. Nó đƣợc đặc trƣng bởi ít nhất 3 yếu tố liên quan: - Niềm tin mạnh mẽ, chấp nhận mục tiêu và giá trị của tổ chức - Sẵn lòng nỗ lực lớn/đáng kể cho tổ chức - Một mong muốn mạnh mẽ để duy trì là thành viên của tổ chức Cam kết tổ chức là sức mạnh của tinh thần trách nhiệm một nhân viên đối với sứ mệnh của tổ chức.
(Theo định nghĩa của website http://www.com/definition/organizational-commitment.