Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Khái niệm quản lý đã xuất hiện từ lâu và ngày càng hoàn thiện cùng với phát triển của xã hội.
Nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Tiêu biểu là: Frederick W.Taylor (1856-1915) cho rằng: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[dẫn theo 10, tr. Theo Harold Koont: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất.
Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [13, tr. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động”.Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [7, tr.Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”[26, tr105]. Theo tác giả Thái Văn Thành:"Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra".5] 9 Khái niệm quản lý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra tuy khác nhau nhưng có các dấu hiệu chủ yếu sau: hoạt động quản lý được tiến hành trong tổ chức hay một nhóm xã hội; hoạt động quản lý là những tác động có hướng đích của chủ thể quản lý; hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Từ các quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được những mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục, nhưng cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung và bản chất. Tiêu biểu là các quan điểm sau: Theo tác giả M.Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em" [19, tr. Theo tác giả Phạm Minh Hạc (1996), quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới. Quản lý giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước [12, tr.
Qua nghiên cứu các khái niệm trên có thể xác định được chủ thể quản lý, khách thể quản lý, quan hệ quản lý và nội dung quản lý bao gồm: Chủ thể quản lý là bộ máy QLGD các cấp; khách thể quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học; quan hệ quản lý là những mối quan hệ giữa người học và người dạy; quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học;. Nội dung quản lý giáo dục là xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, cơ sở vật chất, thiết bị trường 10 học; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, GV; huy động, quản lý sử dụng các nguồn lực. Như vậy, quản lý giáo dục là quá trình tổ chức những tác động giáo dục của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý mà chủ yếu là quá trình dạy học và giáo dục ở các nhà trường để phục vụ cho mục tiêu giáo dục đã đề ra. Giáo viên tiểu học và chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học 1.
Giáo viên tiểu học Điều 66, Luật Giáo dục năm 2019 quy định: "Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên. Giáo viên là những người có đầy đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định. Trong điều 67, Luật Giáo dục 2019 đã chỉ rõ: "Nhà giáo phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây: (1) Có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt; (2) Đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm; (3) Có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; (4) Bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp". Giáo viên là người lao động trí óc, đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo.
Muốn dạy học và giáo dục có hiệu quả người GV phải có kiến thức khoa học chuyên sâu theo lĩnh vực, đồng thời còn có các kiến thức khoa học giáo dục, nắm vững các quy luật phát triển tâm sinh lý để hình thành nhân cách cho HS của từng cấp học. Nghề giáo còn đòi hỏi phải có tính nghệ thuật, phải tổ chức ứng xử giữa con người với con người nên đòi hỏi người GV phải khéo ứng xử sư phạm, biết vận dụng các phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục, phải dựa vào tình huống và con người cụ thể để có phương pháp giáo dục thích hợp và hiệu quả nhất. Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo trong nhà trường, là người làm việc trực tiếp với HS, là người điều khiển quá trình dạy học, là yếu tố chủ đạo trong quá trình giáo dục. Thông qua việc sử dụng các phương pháp, phương tiện giáo dục thích hợp và thông qua chính nhân cách của mình GV trực tiếp tác động lên nhân cách của HS.
11 Từ những phân tích trên đây có thể hiểu khái niệm GV tiểu học như sau: GV tiểu học là những người thực hiện hoạt động dạy học - giáo dục trong các nhà trường, các cơ sở giáo dục ở bậc tiểu học có đầy đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học Mỗi một nghề nghiệp, trong đó có nghề GV đều có những yêu cầu riêng có của mỗi nghề nghiệp đó để đáp ứng được mục tiêu đặt ra. Chuẩn nghề nghiệp GV là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức; kỹ năng sư phạm mà GV cần phải đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục đã đặt ra. Do đó, việc quy định chuẩn nghề nghiệp cho GV có ý nghĩa rất quan trọng đây là cơ sở pháp lý để xây dựng, đổi mới mục tiêu, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho GV hoàn thành tốt những mục tiêu đào tạo đặt ra.
Đồng thời đây là những thước đo cho mỗi GV đánh giá được năng lực, phẩm chất, kỹ năng nghề nghiệp để từ đó có kế hoạch hoàn thiện hơn để đáp ứng những yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp. Mặt khác, chuẩn nghề nghiệp GV còn giúp các nhà quản lý trong đó có Hiệu trưởng có căn cứ pháp lý đánh giá, xếp loại GV, đề ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất nhà giáo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường mình quản lý. Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 20/2018/BGDĐT, ngày 22/8/2018 ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp GV cơ sở giáo dục phổ thông. Khoản 3 điều 3 Thông tư 20 quy định: "Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông là hệ thống phẩm chất, năng lực mà giáo viên cần đạt được để thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục HS trong các cơ sở giáo dục phổ thông" [4, tr.
Giáo viên tiểu học là người giảng dạy ở bậc tiểu học nằm trong cơ sở giáo dục phổ thông do đó có thể khái niệm: Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học là hệ thống phẩm chất, năng lực mà GV tiểu học cần đạt được để thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục HS tiểu học. Hệ thống phẩm chất, năng lực này do Bộ GD&ĐT quy định. Bồi dưỡng và bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp 1. Bồi dưỡng Bồi dưỡng là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn” [20, tr. Tuy nhiên, khái niệm bồi dưỡng còn có những cách hiểu khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường, thì bồi dưỡng “là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ” [11, tr. Theo nghĩa rộng, bồi dưỡng là quá trình đào tạo nhằm hình thành năng lực và phẩm chất nhân cách theo mục tiêu xác định.
Như vậy, bồi dưỡng bao hàm cả quá trình GD&ĐT nhằm trang bị tri thức, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ và những phẩm chất nhân cách.