Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Tổng quan về năng lực dạy học, phát triển năng lực dạy học 1.
Một số nghiên cứu trên thế giới Ngay từ những năm 1920 ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về KN, NL dạy học ở SV trong các trường sư phạm. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được nghiên cứu sâu, mới chỉ xác định được một số nhóm KN cơ bản, chứ chưa hệ thống được những KN giảng dạy cần thiết cho SV. Cho đến những năm 1960 vấn đề nghiên cứu về NL dạy học mới được nghiên cứu nhiều hơn và cụ thể hơn. Đặc biệt ở trong các trường sư phạm vấn đề phát triển NLDH cho SV rất được quan tâm.
Nổi bật là các công trình của X. Abdullina,… đi sâu vào việc đưa ra các hệ thống lí luận về phương pháp giảng dạy. Các công trình của những tác giả trên tập trung vào việc cung cấp hệ thống lí luận về hệ thống các KN dạy học giúp SV có những nền tảng ban đầu để trở thành GV [81], [91]. Trong số đó, công trình “Hình thành kĩ năng và kĩ xảo sư phạm cho sinh viên trong nền giáo dục đại học” của X.Kixegof được các nhà khoa học trên thế giới đánh giá rất cao.
Ông cùng với các cộng sự của mình đã xác định và hệ thống hơn 100 kĩ năng cần thiết trong giảng dạy. Trong đó, nghiên cứu kĩ, chi tiết hơn 50 kĩ năng cần thiết nhất, quan trọng nhất, các KN đó được phân phối theo từng nhóm KN nhất định [74], [91]. Cùng chung quan điểm của X. Abdullina cũng đã đưa ra một hệ thống KN giảng dạy và KN giáo dục riêng biệt và được mô tả theo thứ bậc [74], [42].
Như vậy, giáo dục lúc này đang dịch chuyển dần từ định hướng nội dung, mục tiêu sang phát triển NL người học. Trong nghiên cứu: “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên”, F.Gonobolin đã xác định và hệ thống những NL sư phạm mà người GV cần có. Đặc biệt ông đã chỉ ra những con đường, cách thức rèn luyện để hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống các năng lực đó [81]. luan an 9 Như vậy, có thể thấy những công trình của các nhà khoa học Liên Xô, Đông Âu trước đây đã có những cách nhìn khá cơ bản, toàn diện về quá trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho GV tương lai.
Quá trình rèn luyện NLDH không chỉ quan tâm đến công việc tổ chức đơn thuần mà đã đi sâu vào bản chất các hoạt động của quá trình rèn luyện NL sư phạm nói chung, NLDH nói riêng [49]; [51]; [69]; [70]. Vấn đề nghiên cứu về NLDH cho GV và SV cũng được giới khoa học của Hoa Kỳ và các nước phương Tây nghiên cứu khá nhiều, nhưng khác với Liên Xô và các nước Đông Âu thường tập trung đưa ra cơ sở lí luận, bản chất của phương pháp dạy học thì cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và phương Tây thường đi vào chi tiết, cụ thể và gắn với thực tiễn nhiều hơn. Các nhà khoa học tiêu biểu như J. Dựa vào đặc điểm tâm, sinh lý và gắn với thực tiễn để hình thành, phát triển và rèn luyện các NLDH cho SV.
Nhóm nghên cứu “Phi Delta KapKar” thuộc đại học StanFort Hoa Kỳ đã trình bày khá kĩ về năm nhóm hoạt động kĩ thuật của người GV đứng lớp, có thể xem tương ứng với năm bước lên lớp. Đồng thời, nhóm cũng phân tích các hoạt động của GV tương ứng trong từng nhóm kĩ thuật, phân tích những hành động có thể dạy và đánh giá được người thầy giáo tương lai [67], [34]. Từ những năm 1970, ở Mỹ tại trường Đại học Ohio đã có những nghiên cứu triển khai trong việc xây dựng các bộ Mô đun đào tạo GV dựa trên hành động (Performance Based Teacher’s Education Mudules – PBTE Mudules). Kết quả là các nhà khoa học của trường đã xây dựng và đưa ra được hệ thống hơn 600 KN trong đào tạo GV [34], [64].
Trong các nghiên cứu này, vấn đề NLDH thực hành cũng đã được đề cập đến như: nhóm KN làm TN, nhóm KN quan sát (QS), ghi chép, phân tích. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ giới thiệu, kể tên các thành tố của KN chứ chưa phân tích thành phần, yêu cầu của từng KN. luan an 10 Trong hội thảo về đổi mới việc đào tạo bồi dưỡng GV của các nước châu Á và Thái Bình Dương do tổ chức APEID thuộc UNESCO tổ chức tại Hàn Quốc 2004, các nhà khoa học đã tập trung vào việc xác định tầm quan trọng của việc hình thành tri thức và KN sư phạm cho SV cũng như nêu ra những bất cập trong hoạt động TH sư phạm, từ đó nêu ra những biện pháp để cải thiện vấn đề này. Đặc biệt, hội thảo cũng nêu bật được vai trò của việc hình thành và phát triển NL sư phạm trong đào tạo nghề cho SV Sư phạm [67], [34], [89], [42].
Như vậy, quan điểm sư phạm của các nhà khoa học giáo dục trên thế giới chú ý đến việc hình thành NLDH cho SV, cụ thể là rèn các KN sư phạm thông qua hoạt động giảng dạy. Cùng với đó các nhà khoa học giáo dục cũng đã quan tâm đến việc cải thiện các hoạt động thực hành nhưng chỉ về góc độ tâm lý chứ chưa quan tâm tới sâu đến vấn đề NL (năng lực thực hiện). Mặc dù có sự khác nhau giữa tư tưởng giáo dục Liên Xô và các nước phương Tây nhưng nhìn chung lại các nhà khoa học giáo dục đã hình thành một hướng tiếp cận dạy học mới đó là tiếp cận dạy học theo định hướng phát triển năng lực [34]. Trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỉ 21 xu thế đào tạo theo NL (Competency Based Training - CBT) đã phổ biến trong đào tạo GV trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, xu thế này mới chỉ tập trung nhiều ở các nước châu Âu, châu Mỹ và một số nước phát triển của châu Á [52]. Trong thực tế, người sử dụng lao động không cần quan tâm tới người lao động của mình đào tạo ở đâu, với nội dung gì và trong bao lâu mà chỉ cần người lao động có đủ NL để hoàn thành những công việc của mình tại vị trí lao động đó và đạt chuẩn chất lượng mà sản xuất đòi hỏi; Thực tế đó, đã buộc các nhà giáo dục phải quan tâm, chú trọng tới công tác đào tạo sư phạm [83]. Một số nhà giáo dục người Đức như Sonntag (1993), Hortsch Hanno (2003) [84]; [85]; Hermann Satedag (2004), Michaeel Steig (2006), đã có những nghiên cứu cơ bản về năng lực thực hiện. Họ cho rằng NL thực hiện phải là mục tiêu đào tạo GV, nghĩa là trong đào tạo GV, đầu ra phải làm được gì? Bởi chính người GV là người đặt nền móng, giúp cho HS hình thành NL.
Người học là bản sao của người luan an 11 dạy không chỉ ở phẩm chất, tính cách mà còn là bản sao về năng lực thực hiện trong hoạt động nghề nghiệp. Theo mô hình đào tạo của Viện Công nghệ Masachusetts (MIT), việc phát triển chương trình các ngành kĩ thuật theo tiếp cận CIDO (ý tưởng – thiết kế - triển khai – vận hành) dựa trên tuyên bố đầu ra (Learning Outcomes): SV tốt nghiệp cần có những kiến thức, KN, phẩm chất – thái độ nào và trên cơ sở đó hình thành những NL hành nghề đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng (stakeholdes) [16], [80]. Theo nghiên cứu của Jame H.Strong (2013) [94], đã đưa ra những phẩm chất của người GV hiệu quả bao gồm: 1) Những điều tiên quyết để trở thành một GV hiệu quả; 2) Phẩm chất của GV; 3) Tổ chức và quản lý lớp học; 4) Soạn bài và tổ chức dạy học; 5) Theo dõi sự tiến bộ và tiềm năng của HS. Như vậy, các nghiên cứu về NLDH đã được tiến hành khá sớm ở các nước trên thế giới, các nghiên cứu đó đã chỉ ra được cấu trúc của NLDH, các KN cấu thành, đồng thời cũng xác định được vai trò và tầm quan trọng của việc đào tạo theo NL người học.
Một số nghiên cứu ở Việt Nam Vấn đề NLDH, rèn luyện và phát triển NLDH đã được các nhà giáo dục nước ta tiếp cận, kế thừa và nghiên cứu từ khá sớm. Các tác giả Nguyễn Đức Trí (1989), Nguyễn Như An (1993), Nguyễn Minh Châu (2004), Trần Khánh Đức (2012), Bùi Thị Mai Đông (2005) [ 16] đã hệ thống các khái niệm NL, NLDH, thuộc tính, thành tố của NL, phân loại NL thành NL chung và NL chuyên biệt, phát triển NL, cơ sở của việc đào tạo theo NL. Đây là cơ sở, nền tảng cho việc hình thành, phát triển NL cho người học [3], [10], [15], [16], [64], [65]. Về việc xác định hệ thống các KN, NLDH của SV và GV đã được các tác giả Trần Bá Hoành (1993), (2004) [29], [31], Bùi Thị Mai Đông (2005) [15]; Nguyễn Văn Hiền (2009), Trương Đại Đức (2011) [18], Vũ Xuân Hùng (2011) [34], Nguyễn Thị Kim Ánh (2012), Đỗ Thị Tố Như (2014) [48], Trương Thị Thanh Mai (2016) [44] … nghiên cứu.
Các tác giả đã đưa ra các KN, phẩm chất, NL cần có của luan an 12 người GV, của SV. Từ đó, xác định những KN/NL cần phải hình thành, rèn luyện cho SV và phát triển cho GV ở các cấp bậc. Các tác giã đã phân tích kĩ và làm nổi bật được ý nghĩa của các thành tố trong NLDH của người GV. Trên cơ sở phân tích các thành tố trong NLDH của GV, các tác giả đã đưa ra những tiêu chuẩn nghề nghiệp làm thước đo đánh giá NL người học.
Việc rèn NL cho người học, cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đề xuất các quy trình rèn NL cho người học một cách khái quát. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, vấn đề NLDH và rèn luyện NLDH cho SV sư phạm nhóm ngành khoa học tự nhiên được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Nhiều công trình trong số đó mang tính thực tiễn và ứng dụng rất lớn, như công trình của Trịnh Văn Biểu (2003) [7], Nguyễn Minh Châu (2004), Nguyễn Thị Kim Ánh (2012) [4], Võ Duyên Em (2015) [19]… Các tác giả đã khái quát được các KN/NL dạy học cần có trong dạy học, đào tạo SV hiện nay, đồng thời nhấn mạnh được việc rèn KN/NL phải là một nội dung bắt buộc trong đào tạo. Cùng với đó, các nghiên cứu đã đưa ra được những yêu cầu về KN, vai trò của KN cơ bản trong dạy học môn chuyên ngành với KN dạy học nói chung.