Chương 1: Những vấn đề lý luận về động lực và tạo động lực làm việc cho viên chức và người lao động ngành y tế Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho viên chức và người lao động tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tạo động lực làm việc cho viên chức và người lao động tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương. 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC VÀ NGƢỜI LAO ĐỘNG NGÀNH Y TẾ 1. Khái niệm cơ bản 1.
Viên chức, người lao động ngành y tế Khái niệm viên chức: Theo Điều 2, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức số 52/2019/QH14 ngày 25 tháng 11 năm 2019:“Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[29], [30]. Khái niệm người lao động: Theo Khoản 1, Điều 3 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019, người lao động được định nghĩa như sau: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động” [32]. Người lao động tại các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Các lao động hợp đồng đảm nhiệm các vị trí công việc được quy định tại Nghị định 68/2000 của Chính phủ ngày 17 tháng 11 năm 2000 về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp gồm: (1) Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp; (2). Lái xe; (3) Bảo vệ; (4) Vệ sinh; (5) Trông giữ phương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơ quan, đơn vị sự nghiệp; (6) Công việc khác; 12 - Các lao động được thuê theo hợp đồng thời vụ.
Viên chức, người lao động ngành y tế: là những người được tuyển dụng theo vị trí việc làm hoặc làm việc theo hợp đồng lao động tại các cơ sở y tế (bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế…) công lập; được hưởng lương từ quỹ lương của cơ sở y tế theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận tại hợp đồng lao động. Viên chức, người lao động trong ngành y tế bao gồm: lãnh đạo các cơ sở y tế công lập, đội ngũ bác sĩ, y sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật y, viên chức hành chính, công tác xã hội viên, kỹ sư phụ trách kỹ thuật, nhân viên lái xe, bảo vệ, vệ sinh…và một số lao động phụ trách các công việc chuyên môn khác theo nhu cầu của các cơ sở y tế. Động lực làm việc Động lực (movation) được hiểu là sự thúc đẩy từ bên trong của chủ thể hoặc do những tác động hoặc ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài tới chủ thể khiến cho họ tự nguyện, nỗ lực thực hiện một công việc nào đó với kết quả tốt nhất. Động lực làm việc là sự tự nguyện của các cá nhân hướng các nỗ lực hành động của bản thân nhằm đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Nhờ có động lực làm việc mà người lao động có được sự nỗ lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao cũng như ý chí muốn gắn bó lâu dài với tổ chức. - Các biểu hiện của động lực làm việc: Mặc dù được xem là nhân tố bên trong của người lao động nhưng động lực lao động vẫn được biểu hiện ra bên ngoài thông qua hai khía cạnh sau: +Mức độ tham gia của người lao động vào công việc được thể hiện qua sự tập trung của người lao động trong quá trình giải quyết công việc, sự kiên trì, nỗ lực khắc phục khó khăn để hoàn thành công việc, kết quả và chất lượng hoàn thành công việc… 13 +Mức độ quan tâm của người lao động đối với công việc thể hiện qua thái độ, quan điểm của người lao động về công việc của mình (có yêu thích, tôn trọng công việc hay không), sự hài lòng về công việc, cơ hội thăng tiến trong lao động…. Tạo động lực làm việc cho viên chức và người lao động ngành y tế Tạo động lực làm việc là vận dụng các chính sách, biện pháp, cách thức quản lí tác động tới người lao động, tác động tới môi trường làm việc và các mối quan hệ xung quanh nhằm thúc đẩy người lao động nỗ lực hơn và phát huy hết khả năng để thực hiện công việc được giao, hướng tới mục tiêu chung của tổ chức cũng như gia tăng độ gắn kết của người lao động với tổ chức. Giáo trình Quản trị nhân lực (tập II) NXB Lao động - Xã hội (2009) đã đề cập đến khái niệm tạo động lực lao động: “là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức” [22].
Theo tác giả Bùi Anh Tuấn trong giáo trình Hành vi tổ chức (2009): “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [10]. Tạo động lực cho viên chức, người lao động ngành y tế là việc áp dụng hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của các đơn vị y tế tác động đến viên chức và người lao động nhằm làm cho họ có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đầu để đạt được các mục tiêu của bản thân và của các đơn vị y tế. Tạo động lực cho viên chức, người lao động ngành y tế giúp cho các viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế phát huy hết năng lực, 14 sở trường của mình vào công việc, cống hiến nhiều hơn cho việc phát triển cộng đồng, bảo đảm có một xã hội mạnh khỏe và phát triển. Sự cần thiết tạo động lực làm việc cho viên chức và ngƣời lao động ngành y tế Lao động ngành y là loại lao động đặc thù, gắn với trách nhiệm cao trước sức khỏe của con người và tính mạng của người bệnh.
Hoạt động khám chữa bệnh diễn ra liên tục cả ngày đêm, trong điều điện không phù hợp của quy luật sinh lý con người làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của nhân viên y tế, trực đêm, ngủ ngày và ngược lại, đứng mổ nhiều giờ liền, tiếp xúc với tác nhân gây bệnh, nguy cơ phơi nhiễm cao. Lực lượng này cũng thường xuyên chịu sức ép nặng nề của dư luận xã hội, thái độ hành vi không đúng của người bệnh và người nhà bệnh nhân khi không thỏa mãn nhu cầu của họ. Những điều này tạo ra ảnh hướng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần cho cán bộ y tế, làm cho họ không muốn cống hiến, gắn bó với công việc. Tạo động lực làm việc cho đội ngũ viên chức, người lao động ngành y tế sẽ giúp họ phát huy hết năng lực, sở trường của mình vào công việc, cống hiến nhiều hơn cho việc phát triển cộng đồng, bảo đảm có một xã hội mạnh khỏe và phát triển.
Việc tạo động lực cho viên chức, người lao động ngành y tế vừa được thực hiện theo những nguyên tắc chung của việc tạo động lực cho người lao động, vừa phải gắn liền với những đặc điểm riêng có của người nhân viên y tế, hướng vào việc tăng cường y đức, nâng cao nhận thức về đạo đức nghề nghiệp cho viên chức ngành y tế. Bản thân mỗi viên chức, người lao động khi tham gia làm việc đều mong muốn được cống hiến hết mình cho cơ quan, vì thế, nếu công tác tạo động lực làm việc được hoàn thiện sẽ giúp viên chức và người lao động có được tinh thần làm việc hăng say hơn, được thỏa mãn hơn về cả vật chất lẫn tinh thần, từ đó họ sẽ gắn bó lâu dài với bệnh viện và luôn muốn cống hiến hết mình cho tổ chức, qua đó, tổ chức sẽ ngày càng lớn mạnh và phát triển đi lên. Các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của viên chức, ngƣời lao động ngành y tế Qua các phân tích liên quan đến động lực làm việc, có thể thấy sẽ có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến động lực làm việc của viên chức và người lao động trong lĩnh vực y tế, tuy nhiên ta có thể khái quát thành 3 nhóm yếu tố sau: 1. Những yếu tố thuộc về cá nhân của viên chức, người lao động - Mục tiêu của viên chức và người lao động: đây là cái đích mà mỗi viên chức và người lao động muốn hướng tới trong quá trình làm việc tại các đơn vị y tế; nó định hướng hành động của cá nhân người lao động trong quá trình làm việc theo một cách riêng biệt.
Tại các đơn vị y tế công lập, mỗi viên chức, người lao động lại có một mục tiêu phấn đấu khác nhau và không phải lúc nào cũng giống với mục tiêu chung của tổ chức. Có người phấn đấu lao động vì mục tiêu kinh tế, nhưng lại có người lao động phấn đấu vì sự thăng tiến, uy tín trong nghề. Do đó, lãnh đạo các đơn vị phải nắm bắt được mục tiêu của các cá nhân để có những biện pháp cụ thể định hướng mục tiêu của người lao động theo mục tiêu chung của tổ chức [16]. - Năng lực làm việc của cá nhân viên chức, người lao động: Năng lực làm việc của cá nhân có thể có được do khả năng vốn có (bẩm sinh) hoặc từ quá trình học tập, đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện.
Do đó, lãnh đạo tại các cơ sở y tế phải đánh giá đúng năng lực làm việc của mỗi cá nhân để có thể bố trí những công việc phù hợp, tránh tình trạng viên chức và người lao động được phân công làm việc ở những vị trí không phù hợp với năng lực chuyên môn, quá sức, tạo ra sự trì trệ, chán nản trong quá trình lao động, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh.