CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hộ kinh doanh cá thể 1.1 Khái niệm hộ kinh doanh cá thể Theo Nghị định số 43/2010/NĐ - CP về đăng kí kinh doanh, khái niệm pháp lý về hộ kinh doanh được sử dụng thống nhất hiện nay là: (Điều 49) - Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng kí kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. - Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng kí, trừ trường hợp kinh doanh các ngành nghề có điều kiện. Hộ kinh doanh có thu nhập thấp được quy định tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài Chính. - Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn 10 lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.
Hộ kinh doanh cá thể là mô hình quản lý đơn giản, gọn nhẹ, sử dụng ít lao động, được phân bổ rộng rãi trong tầng lớp dân cư. Về thời gian của hộ kinh doanh cá thể là đa thời gian, điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân trên địa bàn và có cầu ắt có cung, nhất là nhu cầu về ăn uống, dịch vụ, thương mại. Các hộ kinh doanh cá thể này không những tạo ra một lượng sản phẩm không nhỏ trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này vào NSNN cũng chiếm một tỉ trọng tương đối lớn, đồng thời còn thu hút được một lực lượng lớn lao động nhàn rỗi đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội mà thành phần kinh tế quốc doanh và các DNNQD chưa đảm đương hết, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân.2 Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh cá thể là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế cá thể phát triển rất nhanh chóng trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ… Các hộ kinh doanh cá thể thường có những đặc điểm sau: - Chủ thể đăng kí: Cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc một nhóm người hoặc một gia đình cũng có thể đăng kí kinh doanh loại hình doanh nghiệp hộ kinh doanh.
- Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các khoản nợ của hộ kinh doanh. - Về quy mô sản xuất kinh doanh: Các hộ kinh doanh cá thể thường có quy mô nhỏ, trình độ chuyên môn yếu kém, quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, được đăng kí kinh doanh tại một hoặc nhiều địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu. - Số lượng hộ kinh doanh cá thể thường rất lớn, đa dạng về đối tượng, hình thức, ngành nghề, địa bàn và thời gian hoạt động. - Ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các hộ kinh doanh cá thể còn hạn chế.
- Hộ kinh doanh cá thể không có tư cách pháp nhân.3 Vai trò của hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh cá thể có vai trò rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, do đó nó có khả năng đóng góp vào nền kinh tế - xã hội của đất nước. Những vai trò nổi bật của hộ kinh doanh cá thể là: - Hộ kinh doanh cá thể có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến được phân bố rộng rãi ở mọi lúc, mọi nơi. Nhờ đó họ có thể phát huy được sáng kiến của mình vào việc sản xuất và tìm tòi ra những hình thức kinh doanh thích hợp với nền kinh tế mà sản xuất kinh doanh nhỏ còn phổ biến. - Có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất, những bí quyết sản xuất truyền thống được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Điều này cho phép phát 7 huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội và xuất khẩu. Nó có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện đất nước còn thiếu vốn như hiện nay. Thực tế những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc , Trung Quốc, …,đã biết vận dụng đúng đắn tiềm năng này và đã thành công trong quá trình phát triển kinh tế. - Hộ kinh doanh huy động được số lượng vốn lớn, khai thác tiềm năng, sức sáng tạo trong dân, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Trong khi nguồn vốn của Nhà nước, của tập thể còn hạn hẹp thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn. Do đó, nếu có chính sách kinh tế phù hợp sẽ mở đường cho các hộ cá thể gia đình có khả năng bỏ vốn vào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích lũy, mở rộng tái sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh chóng. - Hộ kinh doanh góp phần tạo việc làm, sử dụng số lượng lớn lao động, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế cá thể đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội.
Ở nước ta hàng năm có khoảng 1,5 đến 2,5 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động, bao gồm nhiều loại hình như công nhân, kĩ sư, cử nhân kinh tế nhưng khả năng thu hút lao động của khu vực Nhà nước rất hạn chế thậm chí dư thừa một số lao động hiện có do sắp xếp lại quá trình sản xuất. Do vậy, tình trạng người có sức lao động nhưng chưa có việc làm và người có việc làm nhưng chưa sử dụng hết thời gian lao động còn phổ biến. Với hình thức kinh doanh linh hoạt trong nhiều ngành nghề và sử dụng công nghệ - kĩ thuật thủ công, khu vực cá thể có khả năng tận dụng lao động dư thừa trong xã hội. - Hộ kinh doanh góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn.
Sự đa dạng trong loại hình sản xuất kinh doanh của loại hình kinh tế này cho phép tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ ở mọi lúc, mọi nơi đáp ứng nhu cầu của xã hội đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trên thực tế, có những ngành nghề nếu tổ chức sản xuất tập thể 8 hoặc do Nhà nước đảm nhiệm với quy mô lớn sẽ không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp hơn so với việc tổ chức sản xuất nhỏ ở các hộ gia đình. Sự phát triển của hộ kinh doanh góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu ổn định và ngày càng tăng cho NSNN. Qua con số thống kê của Tổng cục Thuế tại 569 Chi cục thuế ở 60 tỉnh, thành phố; đến cuối năm 2016 cơ quan Thuế quản lý thu thuế đối với 2.796 hộ kinh doanh; số thu NSNN từ các hộ kinh doanh chiếm khoảng 2,55% tổng số thu nội địa không kể dầu thô và đất.
Bên cạnh những vai trò nêu trên, thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số đặc điểm tạo nên một vài hạn chế. Đặc điểm của hộ cá thể là làm ăn riêng lẻ, tản mạn, rời rạc và luôn tìm mọi cách để tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lí kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu Thuế,. Dưới tác động của quy luật giá trị, thành phần kinh tế này rất dễ bị phân hóa. Mặt khác, sự năng động của thành phần kinh tế cá thể mang tính chất tự phát theo thị trường, nên thiếu sự định hướng, dẫn đến hạn chế trong việc bao quát được nhu cầu thị trường.
Để phát huy được những tiềm năng và khắc phục những khiếm khuyết trên, cần phải tăng cường sự quản lý Nhà nước về kinh tế đối với thành phần kinh tế cá thể thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả theo định hướng XHCN trở thành một thành phần kinh tế trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước.2 Những vấn đề chung về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 1.1 Khái niệm quản lý thuế Quản lý là hoạt động cần thiết của tổ chức nhằm khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực và nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Quản lý thuế là một hoạt động quản lý công và vì vậy, nó không nằm ngoài phạm trù khái niệm cũng như các cách tiếp cận về quản lý nói chung. Các học giả hàng đầu trên thế giới đã tiếp cận quản lý theo nhiều cách khác nhau, và do đó họ cũng đã có 9 những định nghĩa khác nhau về quản lý. Theo các học giả thuộc khối Xô Viết cũ, “Quản lý là sự tác động có chủ đích một cách thường xuyên, liên tục của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra”.
Theo cách tiếp cận này, các nhà quản lý chủ yếu điều hành đơn vị của mình thông qua quyền lực, mệnh lệnh, vì vậy công cụ quản lý mà họ thường dùng là mệnh lệnh (command-based). Với cách tiếp cận như thế này, việc quản lý là sự tác động từ bên ngoài, mang tính một chiều mà không có sự phối kết hợp một cách chặt chẽ giữa đối tượng quản lý và đối tượng bị quản lý. Trong hoạt động thu thuế, các cơ quan thuế (mà cụ thể là các cán bộ thu thuế) chủ yếu dùng quyền lực của mình (được luật pháp qui định) để bắt buộc người nộp thuế phải đóng thuế. Do vậy, có thể hiểu bản chất của quản lý hoạt động thu thuế trong trường hợp này cũng chính là thực hiện sự tác động một chiều từ phía cơ quan quản lý đối với người nộp thuế.
Theo giáo trình Quản trị học của nhà xuất bản Houghton Mifflin (ấn bản lần thứ 5), “Quản lý là quá trình làm việc với và làm việc thông qua người khác nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn luôn thay đổi”.