đặt vấn đề về đâu là các nội dung mà Nhà nước cần ưu tiên đầu tư và đâu là phần để cho tư nhân chi trả. Trong nghiên cứu này, tác giả đã cho rằng giữa giáo dục tiểu học với GDĐH thì Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cho giáo dục tiểu học; giữa nhóm có thu nhập thấp hoặc ở vùng nông thôn với nhóm thu nhập cao và ở vùng thành thị thì Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cho nhóm thứ nhất. Nói tóm lại, trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra 1 số nguyên tắc cơ bản về đa dạng hóa nguồn thu cho giáo dục nói chung, trong đó có GDĐH. Lấy bối cảnh Chile, Brunner (1993) đã tổng kết các xu hướng chính của GDĐH nước này trong những năm 1980 - 1990, trong đó đa dạng hóa nguồn thu 9 cho GDĐH công là một trong những xu thế thay thế cho xu hướng cũ là tăng đầu tư đều từng năm.
Theo nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra các nguồn thu chính của cơ sở GDĐH công lập tại Chile, bao gồm: (i) Nguồn đầu tư nhà nước thường xuyên; (ii) Nguồn thu cạnh tranh dành cho các trường thu hút được nhiều sinh viên xuất sắc; (iii) Nguồn tín dụng sinh viên; và (iv) Quỹ cạnh tranh nghiên cứu. Weidman (1995) là một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về chủ đề Luận văn taì chính ngân hàng đa dạng hóa nguồn thu trong GDĐH tại các nước đang phát triển. Trong nghiên cứu lấy dữ liệu từ Kenya và Mông Cổ, tác giả đã tổng kết các cơ chế đa dạng hóa nguồn thu cho GDĐH, bao gồm: (i) Học phí; (ii) Hợp đồng dịch vụ (với đơn vị công và tư); (iii) Nguồn hiến tặng và các nguồn khác. Cho đến những năm gần đây, đa dạng hóa nguồn thu cho GDĐH ngày càng trở thành chủ đề nóng đối với các nhà nghiên cứu trên thế giới.
Có thể nói đây là chủ đề nghiên cứu liên ngành, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học từ các ngành khác nhau như: Tài chính, GDĐH, chính sách công, kinh tế. Ví dụ, nhóm tác giả Leshanych, Miahkykh và Shkoda (2019), trên cơ sở đối sánh hệ thống pháp lý liên quan đến tài chính GDĐH của Ukraina với một số nước như Đức, Mỹ, Anh, Thụy Điển, Na Uy và Australia, đã đi đến kết luận và dự báo: (i) Chi phí GDĐH sẽ tăng nhanh hơn khả năng chi trả của Nhà nước; (ii) Các cơ sở GDĐH cần chủ động thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính trong bối cảnh tự chủ; (iii) Các nguồn thu từ doanh nghiệp và tư nhân cần đóng góp nhiều hơn cho chi phí GDĐH; (iv) Các cơ sở GDĐH cần quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính và tài sản hiệu quả hơn nhằm đảm bảo bền vững tài chính; và (v) việc có thể lựa chọn các nguồn hỗ trợ tài chính khác nhau sẽ giúp người học tìm ra được lựa chọn tốt nhất nhằm đầu tư cho GDĐH của chính bản thân họ. Tương tự, nhóm của Stachowiak-Kudła và Kudła (2017) sử dụng dữ liệu từ 17 nước tại Châu Âu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đa dạng hóa nguồn thu như là một tiền đề quan trọng của ổn định tài chính đối với GDĐH. Điều này kéo theo hàm ý quan trọng đối với việc cải cách hệ thống chính sách về tài chính đối với GDĐH tại các nước tại Châu Âu, vốn được xem là tương đối cứng nhắc nếu so với các nước phát triển tại khu vực khác.
Những nghiên cứu về sử dụng nguồn lực tài chính công hiệu quả đối với cơ sở giáo dục đại học công lập Bên cạnh các nghiên cứu về đa dạng hóa nguồn thu cho GDĐH công lập, một nhóm các nhà nghiên cứu khác trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu xoay quanh câu hỏi: “Làm sao để nâng cao được nguồn lực đầu tư từ Nhà nước tại các trường ĐH công lập?”. Điều này xuất phát từ thực tế rằng, về mặt truyền thống, các Luận văn taì chính ngân hàng trường ĐH công lập thường được Nhà nước đầu tư toàn bộ, các giảng viên, nhân viên nhà trường thường là công chức, viên chức và hưởng lương theo ngạch bậc. Trong bối cảnh đó, trường ĐH công lập, dù kết quả hoạt động tốt hay không tốt vẫn được Nhà nước bao cấp 100% ngân sách. Nhưng khi GDĐH công lập mở rộng, Nhà nước không thể bao cấp 100% như trước nữa, việc tìm kiếm khác nguồn thu khác cho trường ĐH công lập là một hướng thực hiện như đã trình bày ở phần trên.
Song song với đó, nhiều người cho rằng, việc đầu tư cho GDĐH công lập cũng phải điều chỉnh theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công trong các trường ĐH công lập. Nghĩa là: Trường ĐH công lập có kết quả hoạt động tốt sẽ được nhận nhiều ngân sách hơn và ngược lại. Cũng như nhiều chủ đề khác về tài chính trong GDĐH, các nhà nghiên cứu từ Mỹ là những người tiên phong trong việc nghiên cứu về hiệu quả sử dụng và đầu tư tài chính công trong GDĐH. Ví dụ, nghiên cứu của Hansen và Weisbrod (1969) đã đưa đến kết luận, việc đầu tư cho GDĐH công tại Bang California đang dẫn đến hệ quả ngược là “người nghèo đang phải nuôi người giàu đi học ĐH”.
Điều này xuất phát từ thống kê cho thấy, sinh viên tại các cơ sở GDĐH công tại Bang California (nơi nhà nước đầu tư toàn bộ tại thời điểm bấy giờ) thường đến từ các gia đình có mức thu nhập cao hơn. Điều này nghĩa là, toàn bộ công dân của Bang (bao gồm cả người giàu và người nghèo) đang phải đóng tiền và nuôi một số ít người đi học ĐH đến từ các gia đình thuộc tầng lớp trên. Tuy vậy, nghiên cứu này mới dừng ở mức hiệu quả đầu tư tài chính công cho GDĐH đối với vấn đề bất bình đẳng trong cơ hội đi học ĐH của người dân chứ chưa chạm tới vấn đề nghiên cứu về đầu tư tài chính công và chất lượng GDĐH công. 11 Keller (1970) là một trong những nghiên cứu đầu tiên đề cập đến hiệu quả về chất lượng của GDĐH công so với đầu tư của NSNN.
Mặc dù vậy, hạn chế của nghiên cứu này ở chỗ, tác giả mới chỉ đề cập tới tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả chất lượng chứ chưa đưa ra được ước tính và biện pháp cụ thể. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng mới chỉ đề cập đến chất lượng đào tạo chứ chưa đề cập đến chất lượng nghiên cứu, một khía cạnh cũng rất quan trọng của trường ĐH. Luận văn taì chính ngân hàng Nghiên cứu của Thanassoulis, Kortelainen, Johnes, và Johnes (2011) khảo sát vấn đề hiệu quả về mặt chất lượng của một số trường ĐH ở Anh như ĐH Aston, ĐH Brunel, ĐH Cambridge, ĐH Loughborough, ĐH Sussex, ĐH Stirling. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, việc đánh giá hiệu quả chất lượng của cơ sở GDĐH là cần thiết, mặc dù vậy, nghiên cứu cũng khuyến nghị không nên chỉ dựa vào một số chỉ số đo lường chất lượng.
Các tác giả của nghiên cứu này cho rằng, việc kết hợp giữa chỉ số đo lường và đánh giá đồng nghiệp (peer review) mới là cách thức đúng để đánh giá hiệu quả của cơ sở GDĐH. Sử dụng phương pháp có tên gọi là DEA (Data Envelopment Analysis), nhóm tác giả Thanassoulis và cộng sự (2011) đã đánh giá hiệu suất của 19 trường ĐH công nghệ tại Ba Lan. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, với mức đầu tư như nhau, thì các cơ sở GDĐH có quy mô lớn có xu hướng hoạt động hiệu suất hơn so với cơ sở GDĐH có quy mô nhỏ. Nghiên cứu này cũng giúp “phân cụm” các trường ĐH công nghệ tại Ba Lan, bao gồm các “cụm” có hiệu quả thấp và hiệu quả cao.
Mặc dù vậy, nhược điểm của nghiên cứu này là cỡ mẫu hơi nhỏ và chỉ khảo sát tại các trường ĐH công nghệ. Trong thực tế, DEA là phương pháp được nhiều tác giả khác ưa chuộng trong việc đánh giá chất lượng/hiệu suất của cơ sở GDĐH. Ngoài nghiên cứu tại Ba Lan kể trên, có thể kể đến các nghiên cứu sử dụng phương pháp và chủ đề tương tự tại các nước như Anh, một số nước Châu Âu (Wolszczak-Derlacz và Parteka, 2011), Croatia và Slovenia (Obadić và Aristovnik, 2011), Brazil (de França, de Figueiredo và Lapa, 2010). Những nghiên cứu về tăng cường nguồn lực tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập tại Việt Nam 1.
Những nghiên cứu về đa dạng hóa nguồn thu đối với cơ sở giáo dục đại học công lập tại Việt Nam Đa dạng hóa nguồn thu cho cơ sở GDĐH nói chung và trường ĐH công lập nói riêng cũng là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm. Luận văn taì chính ngân hàng Nhìn nhận từ góc độ xã hội hóa GDĐH, tác giả Trần Thị Bích Ngọc (2017) đã phân tích các cách tiếp cận khác nhau của chính sách xã hội hóa GDĐH đã được áp dụng ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua, trong đó bao gồm nội dung đa dạng hóa nguồn thu đối với cơ sở GDĐH tại Việt Nam. Tuy vậy, nghiên cứu này có nhược điểm là mới chỉ phân tích về khái niệm, chưa có nhiều dữ liệu thực chứng cụ thể. Tác giả Phùng Xuân Nhạ và Phạm Xuân Hoan (2013) lại có đánh giá về vấn đề học phí và hiệu quả cá nhân của việc học ĐH ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng “luận đối với cá nhân, bình quân đầu tư 100 đồng cho GDĐH sẽ thu được lợi ích là 324,46 đồng nhờ tăng năng suất lao động” và “Hiệu quả đầu tư cho GDĐH tương đương lãi suất đầu tư vốn thực dương 3,15%/năm đối với cá nhân người học và 2,91%/năm đối với xã hội”. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất có thể có lộ trình tăng học phí để từ đó tăng nguồn thu cho các cơ sở GDĐH công tại Việt Nam. Cũng nhóm nghiên cứu kể trên, trong một nghiên cứu khác (2012) cùng về chủ đề tài chính cho GDĐH đã sử dụng phương pháp so sánh để ước lượng khoảng cách giữa chi phí đào tạo thực tế và chi phí đào tạo hợp lý tại một số ngành đào tạo ở Việt Nam. Nhóm tác giả đã kết luận, đến 2015, “các cơ sở đào tạo ĐH công lập mới chỉ đáp ứng được khoảng 2/3 nhu cầu về tài chính cần thiết để thực hiện được mức chất lượng đào tạo trung bình của thế giới”.